Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng: Về hưu vẫn hành xử như cũ | Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ truyền hình

slideslideslide

categoryGương mặt

Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng: Về hưu vẫn hành xử như cũ

Nói một cách công bằng, trong những người xứ Nghệ thành danh thời hiện đại, TS Nguyễn Sĩ Dũng (sinh năm 1955 tại Thanh Chương) chỉ vươn lên được một vị trí không hẳn là đã quá cao. Nhưng có lẽ anh là một trong những quan chức – trí thức được nhiều người biết tới và trân trọng nhất.

TS Nguyễn Sĩ Dũng.

Năm 2008, sau lần đầu được trò chuyện trực tiếp với TS Nguyễn Sĩ Dũng, tôi đã viết về anh như sau: “Trước khi có dịp tiếp xúc ở khoảng cách gần, TS Nguyễn Sĩ Dũng, tôi cứ đồ rằng, ông chắc chắn phải sinh ra trong một gia đình con nhà nòi và rất phát đạt, quen nhung lụa lắm từ khi còn nhỏ. Trong cách ứng xử và trình bày quan điểm của con người này luôn có một cái gì đó tinh tế, nhẹ nhàng, thậm chí gượng nhẹ, như thể không muốn “làm đau dẫu chỉ một chiếc lá trên cành”, mặc dầu những vấn đề mà tôi từng được nghe ông nói trên truyền hình hoặc trình bày trong các bài báo đều nóng bỏng, đụng tới nhiều sự chí cốt, thiết thân của đời sống chính trị – xã hội. Phải có phẩm hạnh của một trí thức gốc thì mới có thể làm như thế được…”

Cá nhân tôi cho tới hôm nay luôn nghĩ về TS Nguyễn Sĩ Dũng như về một ngọn đèn soi rọi cho người khác đi trên con đường hướng tới những điều đúng đắn… Trò chuyện với anh luôn là một sự thú vị lớn, dù về bất cứ chủ đề gì…

I. Những tâm sự mới (4/2016)

Hồng Thanh Quang: Tôi biết rằng anh đã nghỉ hưu từ tháng 3-2016. Trong gần hai tháng qua, cuộc sống của anh có nhiều thay đổi không ạ?

TS Nguyễn Sĩ Dũng: Thôi cái “nhất thời” để về với cái “vạn đại”, thì thay đổi nhiều chứ ạ. Thay đổi dễ thấy nhất là áp lực phải cố đến cơ quan cho khỏi bị chậm giờ đã biến mất hoàn toàn. Cứ sáng dậy,  đánh răng, rửa mặt xong, thì lại nhận ra rằng mình chẳng có đi đâu mà phải vội… Cuộc sống cũng trở nên bình lặng hơn nhiều. Không còn cảnh họp hành tối mắt, văn bản ngập đầu. Không còn cảnh thấp thỏm chờ đợi xem phương án hợp lý hơn về mặt kỹ thuật có được chấp nhận hay không. Cũng không còn cảnh cái mình hiểu chưa chắc đã là cái mình được làm và phải làm… Bây giờ thích thì mình mới làm và làm thì cũng chỉ làm những cái mình thích và mình hiểu.

Còn cú sốc “Tưởng mình là phượng, là công-Về hưu mới biết mình không là gì”, thì, nói thật, là hơi xa xỉ đối với tôi. Bởi vì rằng chức trách cao nhất tôi từng có chỉ là Phó văn phòng phục vụ Quốc hội. Mà có người phục vụ nào dám nghĩ mình là phượng, là công đâu.

Trí tuệ của trí giả không có tuổi về hưu. Anh khi đương nhiệm luôn là người rất thẳng thắn nhìn vào thực tế và nhìn ra những điểm chưa hoàn thiện. Tuy nhiên, đôi khi nghe anh nói, có cảm giác anh rất lựa lời để không đi quá xa… Bây giờ, với tư cách cán bộ hưu trí, anh có muốn hành xử khác đi không?

- Tôi chỉ muốn đi đến nơi cần đến, chứ không đi quá xa. Nói để người ta nghe và nói cho sướng mồm là hai chuyện khác nhau. Tôi thấy quan trọng hơn vẫn là nói để người ta nghe. Ngoài ra, quan trọng không phải là ngôn từ, mà là thông điệp. Đóng gói thông điệp thế nào để người nghe dễ chấp nhận chỉ là công nghệ bao bì.

Bây giờ với tư cách là cán bộ hưu trí, thì cách hành xử của tôi vẫn sẽ là như thế. Tất nhiên, có nhiều chuyện khi còn  đương chức, quy chế đạo đức công vụ đã không cho phép tôi nhận xét, bình luận, thì bây giờ  quy chế này không còn ràng buộc tôi nữa.

Anh nghĩ thế nào về hiện tượng một số cán bộ vừa mới rời khỏi nhiệm sở đã lập tức cao giọng trách cứ những người kế nhiệm về những việc mà khi còn đương chức chính họ đã không giải quyết được?

- Tôi nghĩ làm như thế để làm gì? Trách cứ chỉ làm cho đám đệ tử của mình ở cơ quan thêm gặp khó khăn với thủ trưởng mới. Ngoài ra, ở đời nhiều khi khen lại tác động lên hành vi của người kế nhiệm nhiều hơn là chê.

Anh từng nhiều năm công tác tại Văn phòng Quốc hội (VPQH), chứng kiến và can dự vào nhiều thay đổi trong hoạt động của cơ quan rất quan trọng này. Giờ được coi như “rửa tay gác kiếm”, liệu anh có thể chia sẻ được những cảm nhận gì về đơn vị công tác cũ của mình? Còn điều gì khiến anh cảm thấy còn trăn trở không?

- VPQH là một nửa đời người của tôi. Đây là cơ quan âm thầm đứng đằng sau những hoạt động đầy ấn tượng của Quốc hội. Trong cơ quan có khá nhiều anh chị em hiểu biết rất sâu về cách thức vận hành một quốc hội hiện đại. Đáng tiếc là cơ hội vận dụng rất hạn chế. Nguyên nhân cơ bản là chúng ta đang quan niệm rất khác với thế giới.

Ví dụ, chúng ta không coi VPQH là bộ nhớ thể chế của QH, mà chỉ coi VPQH là cơ quan tham mưu, phục vụ. Mà như vậy thì sau mỗi kỳ bầu cử, lãnh đạo mới lại điều hành công việc theo cách thức mới. Năng lực thể chế vì vậy thường xuyên bị thất thoát. Và con đường tiến tới một Quốc hội chuyên nghiệp có vẻ còn rất xa xôi…

Điều tôi cảm thấy còn trăn trở thì nhiều, nhưng khi còn đương chức còn chẳng làm được gì thì bây giờ không biết có nên nói ra không?

Người ta bảo, mọi sự so sánh đều khập khiễng. Nhưng có lẽ qua các phép so sánh thì chúng ta luôn có thể hiểu rõ hơn về thực tế. Anh có thể cho biết trong hoạt động của Quốc hội giai đoạn hiện nay có những thay đổi gì căn bản so với những nhiệm kỳ trước?

- Theo cá nhân tôi, những thay đổi căn bản nhất so với những nhiệm kỳ trước là:

1. QH đang ngày càng trở nên thực quyền hơn;

2. Chức năng diễn đàn của QH được vận hành ngày càng hiệu quả;

3. Tính dân chủ trong hoạt động của QH ngày càng được tăng cường;

4. Khả năng áp đặt trách nhiệm giải trình đối với Chính phủ ngày càng cao…

Tóm lại, nếu quá trình chuyển đổi đang diễn ra trên mọi mặt của đời sống xã hội thì cũng đang diễn ra cả trên lĩnh vực lập pháp. Tuy nhiên, đây là một quá trình đầy gian nan, vất vả.

Theo anh, những đổi mới vừa qua trong hoạt động của Quốc hội đã theo kịp được với nhịp điệu của thực tế hay chưa? Hay cây đời vẫn xanh tươi, còn bộ máy thì vẫn lẽo đẽo chạy theo sau?

- Đồng ý, cây đời vẫn xanh tươi, trừ khi hệ thống đập thủy lợi không vận hành, môi trường bị ô nhiễm nặng, thực phẩm bẩn ngự trị khắp nơi… Càng nhiều vấn đề chúng ta phải đối mặt, thì chúng ta càng mong muốn nền quản trị quốc gia vận hành hiệu quả hơn. Mà QH là một phần cấu thành rất quan trọng trong nền quản trị quốc gia chúng ta mong muốn đó.

Trong những nhiệm kỳ gần đây, chúng ta có thể thấy không ít những gương mặt đại biểu Quốc hội rất bạo dạn trong các phát biểu trên diễn đàn công khai. Không ít vấn đề nhức nhối lần đầu tiên được vạch mặt chỉ tên trước quốc dân đồng bào… Anh đánh giá thế nào về việc này?

- Đây là việc rất đáng phấn khởi. Ngoài ra, nếu các vị đại biểu QH còn không dám nói thì còn ai dám nói?

Cá nhân anh có ấn tượng mạnh nhất với những ai? Anh cảm nhận thế nào về anh Dương Trung Quốc? Về anh Lê Như Tiến? Về anh Nguyễn Sỹ Cương?…

- Trên đây đều toàn là những người tôi có ấn tượng mạnh nhất… đặc biệt là về sự dám nói. Không chỉ riêng tôi, chắc cử tri cũng có ấn tượng như vậy. Làm đại biểu là một công việc rất khó. Nhiều khi bạn ngồi xuyên suốt cả nhiệm kỳ 5 năm, mà cử tri vẫn chẳng biết bạn là ai. Nhiều khi bạn  phát biểu liên tục mà truyền thông vẫn chẳng nghe thấy gì. Như vậy, ngoài sự dấn thân, thì làm đại biểu còn phải có năng lực. Rất tiếc, tỷ lệ trúng cử cao không phải là sự bảo đảm ở đây.

Anh có nhận xét gì về văn hoá phản biện trên diễn đàn Quốc hội không? Có ý kiến cho rằng, một số đại biểu trong cơn hứng khởi của mình đôi khi đã đưa ra những nhận xét mang hơi hướng thô bạo, có tính xúc phạm đối với những người mà họ đối thoại. Thí dụ, một đại biểu Quốc hội thì không nên nói câu “trả lời như thế thì ai cũng có thể làm Bộ trưởng được!” với người đối thoại, cũng là một đại biểu Quốc hội và đang là Bộ trưởng… Anh có đồng ý với nhận xét đó không?

- Trên cả đồng ý! Tôi cho rằng biến các phiên chất vấn thành các cuộc đấu tố là không nên. Không chỉ văn hóa phản biện, mà cả văn hóa nghị trường đều không cho phép làm điều đó. Muốn gây ấn tượng thì hãy lập luận sắc sảo hãy cung cấp chứng cứ. Đao to, búa lớn chỉ gây ra sự băn khoăn về phẩm chất của chế định mà thôi.

Ngoài ra, trong việc tổ chức hoạt động chất vấn, chúng ta thường quên mất quyền của hành pháp. (Thế giới gọi là đặc quyền của hành pháp. Tôi tránh gọi từ này vì nó có vẻ nó rất lạ tai đối với người Việt chúng ta).

Hành pháp có những quyền phải được tôn trọng, trong đó có quyền từ chối trả lời những câu hỏi mang tính chỉ trích, thóa mạ cá nhân. Vấn đề là quyền lập pháp và quyền hành pháp phải kiểm soát lẫn nhau. Chứ không phải là sự lấn lướt của bất cứ một quyền nào cả.

Ở nước ngoài lắm khi các nghị sĩ bị lợi dụng cho lợi ích của các nhóm kinh tế hoặc chính trị. Thực ra, nếu những lợi ích nhóm đó trùng khít với lợi ích chung của đa số thì không có vấn đề gì. Tuy nhiên, không ít khi những lợi ích nhóm đó, nói một cách nhẹ nhàng, chỉ là lợi ích cục bộ thì đó sẽ là sự rất “lợi bất cập hại”… Theo anh, liệu chúng ta có phải lo ngại tới việc trong tương lai rất có thể chúng ta cũng sẽ phải đối mặt với hiểm hoạ này? Và nếu thế, chúng ta có thể làm gì bây giờ để phòng ngừa?

- Tôi nghĩ rằng không nên coi đó chỉ là chuyện ở nước ngoài. Thúc đẩy lợi ích của phe nhóm xảy ra ở khắp nơi. Việt Nam ta hoàn toàn không phải là trường hợp được hưởng quyền miễn trừ…

(Cười):… 

- (Cũng cười rồi nghiêm mặt lại ngay): Để phòng ngừa thì áp đặt quy chế đạo đức nghị viện là rất quan trọng. Trong quá trình sửa đổi Hiến pháp, tôi đã kiến nghị, thậm chí đã soạn thảo thành điều khoản cụ thể trình lên cấp trên. Rất tiếc, kiến nghị này đã không được chấp nhận.  Quy chế đạo đức nghị viện là công cụ để phòng chống xung đột lợi ích.

Quy chế này bắt buộc các đại biểu phải công khai các lợi ích của mình và phải không tham gia thảo luận, quyết định những chính sách liên quan đến lợi ích của mình, của công ty mình, của phe nhóm mình.

Anh từng nêu ra quan điểm rằng quan chức quản lý thì không nên kiêm đại biểu Quốc hội. Cá nhân tôi cho rằng ở Việt Nam do những đặc thù mang tính lịch sử của mô hình chính trị nên một số quan chức quản lý vẫn có thể kiêm đại biểu Quốc hội, tất nhiên, chỉ ở một “tỉ lệ vàng” nào đó. Tuy nhiên, xác định “tỉ lệ vàng” đó là không dễ. Theo anh, liệu có thể đưa ra những tiêu chí gì cụ thể để ít nhiều có thể xử lý câu chuyện này một cách hợp lý? Làm sao để các nhánh trong guồng máy vận hành xã hội có thể giao hoà được với nhau nhiều nhất mà không bị chồng lấn giẫm chân nhau?

- Tôi vẫn giữ quan điểm là các quan chức hành chính không nên kiêm nhiệm là đại biểu QH. Không có một tỷ lệ vàng nào ở đây cả. Các quan chức này chỉ là cấp dưới của Chính phủ, của các bộ trưởng, thì làm sao giám sát các vị này được?! Cùng lắm họ chỉ làm được việc là im lặng mà thôi. Trong đa số các trường hợp, thì họ sẽ chủ động đặt câu hỏi theo kiểu “nâng bóng” cho các bộ trưởng “làm bàn” hoặc tìm cách ca ngợi các thủ trưởng của mình trên diễn đàn QH.

Không biết chúng ta có nên bầu họ vào QH chỉ để làm những công việc như vậy hay không? Tuy nhiên, quan chức hành chính khác với quan chức hành pháp. Các thành viên Chính phủ, các bộ trưởng là quan chức hành pháp. Họ là các chính khách chứ không phải là các quan chức hành chính.

(Công bằng mà nói, một sự phân biệt rạch ròi giữa hành chính-công vụ và hành pháp-chính trị không phải lúc nào cũng đạt được trong hệ thống của chúng ta). Và họ đều nên được bầu làm đại biểu QH. Đây là điều kiện bắt buộc trong mô hình tổ chức nhà nước mà Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước QH.

Theo dõi quá trình hiệp thương trong các cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng Nhân dân vừa diễn ra, anh có nhận thấy những điểm mới gì?

- Chi tiết thì cũng có điểm mới. Nhưng về tổng thể, chúng ta ta vẫn làm như từ trước đến nay.

Chúng ta vẫn quen thay đổi theo kiểu “chầm chậm tới mình”, vừa tiếp nối, vừa phát triển. Tôi nghĩ như thế là tốt.

- (Cười): …

Mọi người đã biết TS Nguyễn Sĩ Dũng không chỉ là một quan chức Quốc hội mà còn là một người viết báo ấn tượng và đầy hiệu quả. Đã có lúc nào anh phải cảm thấy việc tác nghiệp của nhà báo mâu thuẫn với chức phận công chức chuyên môn của anh không? Và nếu có, anh đã xử lý những tình huống đó như thế nào?

- Điều này tôi cũng đã nói ở trên. Về những vấn đề mà quy chế đạo đức công vụ không cho phép thì tôi không nói và cũng không viết hoặc chỉ nói, chỉ viết theo đúng chức phận của mình.

Cuộc sống luôn muôn màu muôn vẻ. Nhưng truyền thông không nên chỉ phản ánh một cách cơ khí bức tranh thực tế mà phải làm sao để hướng cuộc sống hướng tới những điều tốt lành hơn. Anh nghĩ sao về ý kiến này?

- Tôi hoàn toàn đồng ý với anh Hồng Thanh Quang! Tất nhiên, để là được điều đó, thì trung thực và dấn thân vì sự thật là rất cần thiết.

TS Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội
phát biểu tại buổi đối thoại “Cử tri lần đầu đi bầu cử Quốc hội
và Hội đồng nhân dân các cấp”. (Ảnh: dangcongsan.vn).

II. Những trao đổi cũ (tháng 2/2008)

Sau khi học hết cấp III ở Nghệ An, anh đã được chọn đi học ở Liên Xô. Anh đã học ở đâu và môn gì?

- Tôi thi vào Khoa Văn Trường Đại học Tổng hợp nhưng được chọn đi học ở Piatigorsk, Liên Xô, chuyên ngành tiếng Anh.

Tôi nhớ rằng, thời của chúng ta, được sang Liên Xô học là may mắn lắm rồi nên được phân công vào ngành gì thì theo học ngành ấy, dù có hợp với mình hay không. Anh học tiếng Anh nhưng thực ra, ngoại ngữ  với một trí thức chỉ là một công cụ mà thôi. Với anh, vốn liếng Anh ngữ đã có sự hữu dụng thế nào trong công việc sau này?

- Đúng, ngôn ngữ vừa là nghề, vừa là công cụ. Thực chất con người ta tư duy bằng ngôn ngữ. Và cảm nhận cuộc sống trong nhiều trường hợp cũng vậy. Mỗi một ngôn ngữ lại có những ưu điểm của riêng mình. Biết thêm ngoại ngữ là có thêm công cụ để tư duy và để cảm nhận cuộc sống. Chẳng hạn như tiếng Việt mình là một công cụ tuyệt vời để diễn tả những cái gì đó rất tinh tế, mong manh. Ví dụ như, xanh thăm thẳm, xanh vời vợi… thì không chỉ là xanh, mà còn là những khía cạnh cảm xúc tinh tế của con người gắn với những màu xanh đó.

Tuy nhiên, tiếng Anh, tiếng Nga lại có những thế mạnh khác, đặc biệt là trong lĩnh vực tư duy lôgíc và trừu tượng. Tiếng Nga chẳng hạn, cũng rất là hay, rất thích hợp với cách tư duy trừu tượng. Tiếng Anh thì lại là một thứ ngôn ngữ rất thực dụng. Tiếng Anh có thể giúp ta tư duy một cách rất mạch lạc về nhiều vấn đề chính trị – xã hội và pháp lý.

Được học tiếng Anh ở Liên Xô với tôi cũng là một may mắn rất lớn, có lẽ là bằng quyết định đó, Nhà nước đã mở ra cho mình một chân trời rộng lớn.

Có ý kiến cho rằng, mỗi ngôn ngữ quy định ra một kiểu tư duy. Có đúng vậy không ạ?

- Có một phần sự thật trong nhận định nói trên. Sau này, khi sang học ở Australia, mình thấy cái gì cũng mạch lạc, cái gì cũng sáng tỏ, cái gì mình cũng rất dễ cảm nhận. Có lẽ, đó là cách tư duy của phương Tây, mọi thứ đều rất thiết thực. Còn khi học ở Liên Xô thì cái mình tiếp thu được là lý luận, nào là phủ định của phủ định, đấu tranh giữa các mặt đối lập… Rất trừu tượng! Còn ở trong cách của phương Tây thì rất cụ thể.

Chẳng hạn khi nói về pháp luật, trong tiếng Nga định nghĩa đó là các quy phạm phổ quát điều chỉnh các quan hệ xã hội… Còn ở phương Tây dạy về luật bắt đầu ngay từ câu chuyện về việc, một ông đi săn bắn trúng con nai bị thương, ông ấy đuổi theo con nai, đến đầu kia thì thấy một ông xẻ thịt con nai đó, bây giờ phải làm thế nào?

Có hai cách: một là đánh nhau (dùng bạo lực để giải quyết vấn đề); hai là đề ra một khuôn khổ để phân chia, quyền của ai ở đây lớn hơn, quyền của người bắn hay quyền của người nhặt được con nai? Mỗi anh đều có quyền thì ranh giới của hai quyền là như thế nào và việc xử lý cái đó chính là pháp luật.

Người ta đi từ thực tế suy ra lý thuyết như thế nên mình cảm nhận được rất dễ dàng.

Cách đối xử với học sinh ở phương Tây cũng khác giữa Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Chẳng hạn, ở Liên Xô, nếu cho sinh viên đi tham quan thì nhà trường sẽ thuê ôtô, làm danh sách những người đi rồi hẹn ngày giờ đến để ôtô chở đi. Còn ở Australia khi tôi sang đó học thì hoàn toàn không có cái đó; người ta chỉ bảo là các bạn sẽ đi tham quan vào ngày ấy, giờ ấy, đến cái địa điểm này; và nếu muốn đến địa điểm đó thì có các loại ôtô như thế này, có thể tra cứu các bản đồ ở chỗ này, chỗ kia, và trong tài khoản của các bạn, tiền để phục vụ cho việc tham quan đã được chuyển vào. Không ai dắt tay mình đi. Hoàn toàn là hai cách thức ứng xử khác nhau. Tính chủ động của sinh viên, trong mô hình dạy và học của Australia rất lớn…

Có một vấn đề trong chuyện tiếp thu tri thức như thế này: Nếu chúng ta nắm chắc cái của chúng ta và tiếp cận những cái mới trên cơ sở vững chắc nền móng của mình thì sẽ khác hẳn là nếu chúng ta chưa vững chắc nền móng của mình mà tiếp nhận ngay những cái mới. Có vẻ như hiện nay đang xảy ra tình trạng như thế ở một số trí thức Việt Nam được đi du học ở nước ngoài: Anh tiếp cận với văn minh phương Tây, với lý luận phương Tây và anh cảm thấy rất hay và lập tức cảm thấy cái gì ở phương Đông cũng là đã lỗi thời hoặc không tiến bộ. Và anh cứ muốn áp dụng ngay những cái mà cảm thấy là tinh hoa phương Tây vào một bối cảnh và những điều kiện rất đặc thù của nước mình. Và thế là mâu thuẫn nảy sinh. Anh nghĩ thế nào về hiện tượng này?

- Đúng là chuyện đó có thể có, nhưng có lẽ cũng không phổ biến. Ngoài ra, những người Tây học chưa phải là đông, cũng chưa phải là có thế lực. Thực ra, quan hệ giữa cái phổ quát và cái chuyên biệt là một mối quan hệ biện chứng.

Cái phổ quát tác động lên cái chuyên biệt và ngược lại cái chuyên biệt cũng tác động lên cái phổ quát. Ngoài ra phương Đông hay phương Tây thì nhiều khi chỉ là các cách tiếp cận chân lý khác nhau. Còn chân lý có thể chỉ là một. Ưu điểm của cách tiếp cận phương Tây là duy lý. Theo tư duy của người phương Tây thì toàn bộ pháp luật cũng như kinh tế học đều được xây dựng trên một giả thuyết là con người ta hành xử hợp lý. Còn bất cứ lúc nào mà con người hành xử bất hợp lý thì pháp luật chẳng giải quyết được vấn đề gì cả.

Lấy ví dụ, pháp luật sẽ không có nghĩa gì nếu như người ta cứ đánh bom liều chết. Sự trừng phạt cao nhất chỉ có thể có là tước bỏ cuộc sống của con người, nhưng với một kẻ đánh bom khủng bố, sẵn sàng chết vì cái mà họ cho là lý tưởng thì nền văn minh phương Tây dường như bất lực. Phương Tây với toàn bộ kỹ nghệ của mình, toàn bộ hệ thống pháp luật tỏ ra hoàn toàn lúng túng vì ở đây anh đang phải đối xử với một hệ chuẩn nó khác, và con người họ hành xử không theo giả thuyết là con người ta phải hành xử hợp lý.

TS Nguyễn Sĩ Dũng trao đổi với các bạn trẻ về vai trò
và trách nhiệm với các cử tri. (Ảnh: Công Khanh).

Khôn ngoan như Bá Kiến mà lắm khi cũng bất lực với cách hành xử kiểu Chí Phèo…

- Người phương Đông hành xử hợp lý hay không hợp lý? Về căn bản là hợp lý. Lợi ích bao giờ cũng dẫn dắt con người. Nó như “cục pin” mà tạo hóa đã gắn vào ngực con người. Bất cứ một chủ trương, chính sách nào mà lại móc “cục pin” đó ra khỏi ngực con người thì con người sẽ không còn động lực. Cái đó căn bản đúng, nhưng còn cái gì khác nữa thúc đẩy người Việt chúng ta? Cái gì thôi thúc người Việt sẵn sàng làm việc này hay việc khác? Ở đây, có thể có tầm nhìn.

Lấy ví dụ một cách ứng xử trong sinh hoạt hàng ngày: Có người muốn nhà mình sạch thì cứ vứt rác ra ngoài đường, vứt ra cả xác chuột chết. Rõ ràng đó là một hành vi xuất phát từ góc độ tầm nhìn hạn hẹp; vì hạn hẹp nên thấy làm như thế là hợp lý, tôi không mất nhiều công sức lắm mà nhà tôi vẫn sạch. Nhưng đó là tầm nhìn rất gần, thì như vậy là đầu độc chính mình, hủy hoại môi trường sống của chính mình. Vì xe cộ sẽ biến rác, chuột thành bụi và bụi lại sẽ bay vào nhà.

Thường là một con người hợp lý nếu bị vướng vào tầm nhìn thiển cận sẽ có thể gây nên những hành vi bất hợp lý. Bởi lẽ túi rác tôi vứt ra đường, xác con chuột chết tôi vứt ra đường nếu có xe cộ đi lại thì chúng sẽ bung ra, tung toé khắp nơi, gây ô nhiễm môi trường và rất có thể lại bay vào nhà của người đã vứt chúng ra.

Hợp lý với cá nhân nhưng lại bất hợp lý với cộng đồng, rốt cục lại trở về với sự bất hợp lý với chính mình… Theo cảm nhận của tôi, hình như mô hình người Việt Nam thế kỷ XXI mà chúng ta đang cần phải xây dựng là: có cục pin của tạo hóa trong ngực như anh đã  nói, nhưng vẫn cộng thêm những cái tâm linh truyền thống của người Việt. Nếu kết hợp hai cái đó thì chúng ta tìm được cách phát triển riêng của chúng ta trong thế giới rất nhiều mô hình, rất nhiều đường đi hiện nay. ông có nghĩ như vậy không?

- Cái đó quá đúng. Hội nhập thì không chỉ có cạnh tranh, mà còn có vấn đề bảo vệ bản sắc. Người Việt sẽ tồn tại với bản sắc của mình như một dân tộc, như một cộng đồng không bị hòa lẫn thì đó mới là vấn đề.

Đóng góp sự đa dạng đầy bản sắc của mình vào thế giới, chúng ta không nhòa đi, không bị tan đi như một cục đường…

- Chúng ta sẽ vẫn là chúng ta. Trong đó các yếu tố tâm linh có thể đóng vai trò rất quan trọng. Nhưng con người ta là một thực thể hết sức phức tạp. Đời sống vật chất chỉ là một phần thôi, một phần rất hữu hạn của con người, đời sống tinh thần, đời sống tâm linh mới là vô hạn. Tại sao người ta nói kinh tế tri thức sẽ phát triển mạnh hơn? Đó là vì kinh tế tri thức khai thác các nhu cầu về tinh thần, đó là các nhu cầu vô hạn; còn nếu anh khai thác các nhu cầu vật chất thì nó rất hữu hạn, mà một khi nó hữu hạn thì kinh tế không phát triển mãi được.

Kinh tế thực ra chỉ là một hoạt động nhằm khai thác nhu cầu của con người thôi. Vì rõ ràng nếu người ta không có nhu cầu mặc áo thì anh may áo chẳng thể có lợi ích kinh tế. Nhưng nhu cầu tinh thần thì có thể tinh tế hơn, cái áo phải theo mốt, cái áo phản ánh được văn hóa, cái áo phản ánh được lúc vui lúc buồn của con người. Và như vậy từ giá trị vật chất đã chuyển sang giá trị tinh thần rồi. Và cái đó mới là vô hạn. Những cái như vậy mới làm nên sự phát triển vượt bậc của kinh tế…

Anh là một người đi nhiều, đọc nhiều, biết nhiều. Anh có cảm giác rằng, nói một cách thực chất thì người Việt chúng ta thiếu những cái gì chăng để có thể trở thành công dân toàn cầu? Không nhất thiết cứ phải nhìn thấy điểm xấu của dân tộc mình nhưng mà nếu nhìn thấy được những cái hữu hạn của mình may ra sẽ có cơ hội hơn trong tương lai…

- Trước hết, tôi đi, đọc và biết thì cũng vừa phải thôi. Còn về những thứ mà người Việt cần có để trở thành công dân toàn cầu, thì tri thức, hiểu biết, các kỹ năng là rất cần thiết. Trước hết là tri thức, tri thức đầu tiên là sự  hiểu biết về thời đại mà chúng ta đang sống. Thời đại chúng ta đang sống có gì khác biệt? Các quy luật nào đang làm cho thế giới chuyển động, đang sai khiến loài người phải hành động như thế này, mà không phải như thế khác?

Tức là những quy luật này có thể đúng, có thể sai tùy theo góc nhìn nhưng phải hiểu rõ những quy luật nào đang chiếm lĩnh cuộc chơi nhất để mình thích ứng hoặc mình tránh, có đúng vậy không ạ?

- Đúng là có quy luật chuyên biệt, nhưng có quy luật phổ quát. Một số quy luật là rất phổ quát. Bây giờ chẳng hạn như người ta đầu tư khai thác dệt may ở đây, đến đây nhiều là vì người ta mua lao động giá rẻ ở đây. Như vậy, việc làm nó chạy đến nơi có giá lao động rẻ cho dù lao động thô sơ, lao động được đào tạo hay lao động chất lượng cao, bất cứ chỗ nào cũng thế. Còn hàng hóa nó chạy đến nơi có giá bán cao hơn. Đó là một quy luật gần như không thể đảo ngược được.

Nhà nước Mỹ cũng muốn giữ lại việc làm cho người Mỹ chứ, nhưng tại sao nhiều công ty Mỹ vẫn cứ tìm cách xây dựng các nhà máy lắp ráp ở nước ngoài? Bởi vì, cũng chất lượng như vậy, giá thành ở đó rẻ hơn. Rõ ràng là các doanh nghiệp Mỹ cũng chạy theo lợi nhuận thôi. Tinh thần yêu nước cũng đóng một vai trò nào đó, nhưng tinh thần yêu nước của người Mỹ cũng chỉ bùng phát ở những thời điểm nhất định và được kích lên như khi xảy ra vụ tấn công tòa tháp đôi ở New York… Nhưng ngày hôm sau, ngày hôm sau nữa thì các doanh gia phải nghĩ, phải tính toán theo tư duy hợp lý và phải theo đuổi lợi nhuận. Đó mới là hành vi kinh tế. Như vậy ta sẽ thấy các quy luật bao trùm thế giới này nó đang làm chủ thế giới này như thế thì mình đi ngược sao được! Vấn đề là mình tuân theo những quy luật đó như thế nào cho có lợi nhất…

Nếu bây giờ giá công nhân mình rẻ, nhưng rõ ràng người ta khai thác công nhân không được đào tạo thì tiền mình chẳng có bao nhiêu. Còn người ta khai thác công nhân được đào tạo thì thu nhập sẽ cao hơn, đóng thuế cho nhà nước cao hơn, cuộc sống tốt đẹp hơn. Rõ ràng ở đây giáo dục-đào tạo đóng vai trò quan trọng. Nó là phần cốt lõi của kinh tế. Còn nhiều quy luật khác nữa của việc luân chuyển dòng vốn, của việc thị trường chứng khoán, tâm lý đầu tư… Rất nhiều.

Trong cuốn sách “Sống bằng không khí mong manh” của một tác giả người Anh có nhắc, chúng ta đang sống trong thế giới rất bất định. Cái gì đúng với người Anh thì cũng đúng với người Việt thôi. Việc làm có thể chảy từ nơi này sang nơi kia, tiền có thể chảy từ nơi này sang nơi kia. Quy luật của thế giới này là tốc độ, cũng công nghệ đấy nhưng anh nhanh hơn thì anh thắng. Quy luật của thế giới này là tốc độ sẽ thắng. Một công nghệ dù tiên tiến đến mấy cũng chỉ sống được một thời gian thôi, một công nghệ khác siêu việt hơn sẽ bóp chết công nghệ đó. Tiếp theo, anh phải chuẩn bị tâm thức của anh trong một thế giới luôn luôn thay đổi. Có những giá trị thuộc về bản sắc anh phải giữ, nhưng cũng có những giá trị khác mà anh cứ cố bám vào là anh chết. Ví dụ như tổ chức xã hội như thế nào để có thể thành đạt? Các thiết chế, các thể chế, nghe nó trừu tượng nhưng bản chất nó là tổ hợp các hành vi.

Trong một mô hình xã hội mới như thế, người Việt cũng phải học cách tổ chức sống theo cách mới. Những cái gì đưa cho làng toàn cầu thành đạt thì mình cũng phải có… Trong mô hình xã hội như thế rất cần anh và tôi sẽ phải hợp tác với nhau. Như vậy người Việt phải học cách hợp tác với nhau để trở thành công dân toàn cầu. Và cả về tâm lý nữa. Tại sao người phương Tây chiếm lĩnh được nhiều lĩnh vực? Vì người ta thích mạo hiểm. Mình cũng không phải quá phiêu lưu nhưng phải biết mạo hiểm.

Cơ hội toàn cầu, thì rủi ro cũng toàn cầu. Nếu anh không chấp nhận cái đó thì cũng rất khó, anh chỉ trở lại với vườn cây ao cá của anh, không chết đói nhưng cũng khó mà giàu… Một điều nữa là nói đến hợp tác, không phải với nhau mà với người nước ngoài nữa. Vì rằng anh chia sẻ cơ hội với người nước ngoài thì anh cũng phải chia sẻ rủi ro với họ…

Chúng ta đang thay đổi để thích ứng hơn với điều kiện mới nhưng có điều tốc độ thay đổi ấy đạt được đến đâu thì do góc nhìn, có đúng không anh? Và nếu trong cơ chế như ở nước ta, nếu ta không quá hài lòng thì chúng ta cũng không nên bi quan với sự thay đổi đang diễn ra.

- Hoàn toàn đang diễn ra rất là tốt đẹp, rất là đúng hướng và có lẽ cũng không thể nhanh hơn được nữa. Đời chỉ thay đổi khi chúng ta thay đổi. Mà chúng ta thì bị ràng buộc bởi trăm mối, trong đó có văn hóa, có pháp luật, có giá trị, có truyền thống, có đạo đức, có quyền lực, có lợi ích… Khi mọi thứ không chuyển động đồng bộ thì đổ vỡ sẽ rất dễ xảy ra…

Thực ra tất cả chúng ta, bất cứ một tầng lớp nào, bộ phận nào của xã hội đều có quyền xứng đáng với tỷ lệ của mình và làm sao để không phải hy sinh cho bất cứ ai, bất cứ bộ phận nào dù là nhỏ nhất cho một thay đổi gọi là hướng tới tương lai. Có đúng vậy không, thưa anh?

- Cuộc sống mà tạo hóa cho mọi người đều quý như nhau. Thành thử hy sinh tầng lớp này cho tầng lớp kia, thậm chí thế hệ này cho thế hệ kia xét từ góc độ giá trị, xét từ góc độ đạo lý đều không được. Một ngày mất là một ngày mất, Mặt Trời chỉ mọc lên chừng đấy ngày cho chúng ta thôi. Có thể về sinh học, về điều kiện sống, có người sống nhiều hơn, có người sống ít hơn, đó là cái mà tạo hóa cho con người, đó là giá trị cao nhất và giá trị đó phải được trân trọng. Không nên hy sinh lợi ích của tầng lớp này cho tầng lớp kia.

Ví dụ như cấm hàng rong thì lợi cho người đi bộ thoải mái nhưng ảnh hưởng đời sống những người nghèo kiếm sống bằng nghề đó. Có lẽ, một sự cân đối lợi ích là không phải dễ, nhưng tránh phải hy sinh lợi ích của người này vì người kia nhiều bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Và muốn cân đối không phải chỉ nói đạo lý, mà cần phải có những thiết chế để làm những chuyện đó. Không ngẫu nhiên người ta nói rằng, triết lý của thị trường là kẻ mạnh phải thắng, còn triết lý của dân chủ là kẻ yếu phải có cơ hội.

Con voi có thể to hơn con kiến nhưng không nên nghĩ rằng phẩm giá của con voi lại lớn hơn phẩm giá của con kiến, tương ứng với trọng lượng của nó. Xin cảm ơn TS! 

Hồng Thanh Quang (thực hiện)

Daidoanket.vn

Thư viện