Bành Châu nhà biên kịch đa năng ( Kỳ đầu) | Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ truyền hình

slideslideslide

categoryGương mặt

Bành Châu nhà biên kịch đa năng ( Kỳ đầu)

VTVTC: Tiếp theo bài viết về nhà biên kịch Bành Bảo, ban biên tập daotao.vtv.vn xin trân trọng giới thiệu bài viết thứ hai trong năm mới của nhà biên kịch Nguyễn Hậu ” Bành Châu nhà biên kịch đa năng”. Đây là bài viết  đăng trong cuốn sách  Nghệ sĩ điện ảnh Việt Nam của Trung tâm nghiên cứu nghệ thuật và lưu trữ điện ảnh Việt nam, xuất bản năm 2003, bút danh Văn Nguyên Hậu.

Họ và tên thật:                      Bành Hữu Châu

Họ và tên thường dùng:      Bành Châu

Bút danh:                               Ngô Châu

Ngày tháng năm sinh:         30-9-1930

Quê quán:                             Thị xã Phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang

Trường lớp chuyên môn đã qua: Khoa Cao học Biên kịch điện ảnh, Học viện điện ảnh (VGIK) Mátxcơva (Liên Xô).

Danh hiệu: Nhà biên kịch điện ảnh – Phó giáo sư – Tiến sĩ Nghệ thuật học.

Chân dung ông Bành Châu thời kỳ học tại VGIK

Chân dung ông Bành Châu thời kỳ học tại VGIK (Ảnh do gia đình cung cấp)

 

Tác phẩm chính:

I. Phim tài liệu (Viết kịch bản, lời bình, đồng tác giả hoặc chỉ đạo nghệ thuật).

  • Anh Nguyễn Văn Trỗi sống mãi – Giải Bông sen Vàng, Liên hoan phim (LHP) Việt Nam lần thứ I, 1970; Huy chương Bạc, LHP Quốc tế Matxcơva, Liên Xô, 1965.
  • Một ngày trực chiến – Bông sen Vàng, LHP Việt Nam lần thứ I, 1970.
  • Đầu sóng ngọn gió – Bông sen Vàng, LHP Việt Nam lần thứ I, 1970; Huy chương Vàng, LHP Quốc tế Matxcơva, Liên Xô, 1967. 
  • Lũy thép Vĩnh Linh - Bông sen Vàng, LHP Việt Nam lần thứ II, 1973; Huy chương Vàng, LHP Quốc tế Matxcơva, Liên Xô, 1971.
  • Làng nhỏ ven sông Trà - Bông sen Vàng, LHP Việt Nam lần thứ II, 1973; Bồ câuVàng, LHP Quốc tế Lai-xích, CHDC Đức, 1971.

II. Phim truyện (Tác giả, đồng tác giả hoặc chỉ đạo nghệ thuật).

  • Đường về quê mẹ – Bông sen Vàng, LHP Việt Nam lần thứ II, 1973; Giải Nhất, Symponium Á – Phi – Mỹ Latinh tại Carlovy – Vary, Tiệp Khắc, 1972; Giải Nhất, LHP Quốc Tế Ấn Độ, 1972; Giải kịch bản của Hội Điện ảnh Việt Nam dành cho tác giả kịch bản văn học, 1973, v.v… Kịch bản được Nhà xuất bản Văn hóa in.
  • Hoa thiên lý - Kịch bản được Nhà xuất bản Văn hóa in.
  • Nắng mới - Kịch bản được Nhà xuất bản Văn hóa in.
  • Câu chuyện làng Dừa – 1977; Kịch bản được Nhà xuất bản Văn hóa in.
  • Ai giận ai thương – Giải đặc biệt của Ban Giám khảo, LHP Việt Nam lần thứ VI, 1983.
  • Thằng Bờm – 1987
  • Thằng Cuội – 1989 …

Và nhiều công trình nghiên cứu, lý luận phê bình, dịch thuật.

Nói đến tên tuổi Bành Châu, những người cùng thế hệ cán bộ kháng chiến được Đảng và Nhà nước đào tạo thành nghệ sĩ điện ảnh thường dễ dàng công nhận với nhau rằng đó là một nhà biên kịch tài năng, có nhiều đóng góp cả trong lĩnh vực phim tài liệu và phim truyện; từ điện ảnh tới truyền hình. Đồng thời, ông còn làm báo, dịch thuật, nghiên cứu… và đặc biệt, trong công tác đào tạo, Bành Châu đã có nhiều cống hiến hơn bất kỳ một nhà biên kịch nào cùng lứa với ông. Mặt khác, Bành Châu cũng là một trong số không nhiều người làm điện ảnh Việt Nam có thể sử dụng thành thạo tới 3 ngoại ngữ chính là Nga, Pháp, Anh. Và khoảng trên dưới chục năm, Báo Điện ảnh – Kịch trường, cơ quan ngôn luận chuyên ngành của Bộ Văn hóa – Thông tin với Tổng Biên tập Bành Châu đã thực sự để lại những dấu ấn khó quên trong lòng bạn đọc, nhất là những người trẻ tuổi.

Vốn sinh ra trong một gia đình viên chức cấp thấp, mẹ là tiểu thương, ở thị xã Phủ Lạng Thương (tỉnh lỵ tỉnh Bắc Giang), sau chuyển lên thị trấn Bố Hạ vùng Yên Thế, Bành Châu đã được hưởng sự quan tâm giáo dục một cách hết sức chu đáo từ ông bố và bà mẹ. Dòng sông Thương với cảnh trên bến dưới thuyền, với tiếng hò đò của những anh hóp đò dọc vuốt dài theo can sông xanh “nước chảy đôi dòng” cũng đã lưu lại trong ký ức tuổi thơ của cậu học trò áo the quần ống sớ thuở đó những tình cảm trong sáng và lãng mạn. Nhưng điều quan trọng hơn có lẽ lại là chính môi trưởng sống của gia đình. Thật khó mà hình dung ra được, từ hồi đó, trong cái gia đình đông con tỉnh lẻ kia lại có cả một “dàn nhạc” và “đoàn kịch”; mà ai cũng phải sắm (nhiều vai trong một vở) – không có ngoại lệ. Không những thế, bảy (*) chị em nhà Bành Châu còn “làm báo”, không phải báo tường, mà là một “tuần san” (!) mười sáu trang viết tay, in thạch… Chính bầu không khí văn hóa khép kín mini ấy đã góp phần tạo nên nhân cách Bành Châu và giúp đỡ ông rất nhiều trên bước đường công tác sau này.

Hai anh em Bành Châu, Bành Bảo

Hai anh em Bành Châu, Bành Bảo ( Ảnh do gia đình cung cấp)

Cách mạng tháng Tám thành công (Việt Minh phủ Yên Thế cướp chính quyền từ 15-7-1945), rồi kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Chàng thanh niên Bành Châu hăm hở gia nhập phong trào với tất cả nhiệt tình sôi nổi và lãng mạn của tuổi trẻ. Làm báo, vẽ tranh, kẻ khẩu hiệu, gọi loa tuyên truyền … việc nào được cấp trên giao phó, Bành Châu cũng đều làm tốt. Thật thú vị là ngay từ năm 1948, rời chức trách Phó trưởng phòng thông tin huyện, Bành Châu nhận công tác ở Ty thông tin Bắc Giang, tham gia làm phim đèn chiếu của tỉnh, với nhà thơ Tú Mỡ làm “cố vấn biên tập” và họa sĩ Trần Phềnh phụ trách phần hình ảnh. Bà con nông dân, cán bộ, bộ đội, học sinh… náo nức chen nhau xem những bộ phim vẽ trên giấy bóng kính, còn quá thô sơ nhưng vẫn là những món ăn tinh thần quý giá (nhân vật bất động, những cảnh vật chuyển động 4 chiều cả ngang, cả dọc).

Năm 1950 thật sự mở ra bước ngoặt đối với Bành Châu. Ông được cử đi học Trường Văn nghệ Nhân dân Trung ương tại chiến khu Việt Bắc (cùng lớp với Bàn Tài Đoàn, Nguyễn Kiên…), được gọi là Khóa phát động. Lớp do thầy Nguyên Hồng làm chủ nhiệm kiêm dạy văn xuôi; Đoàn Phú Tứ giảng kịch; Xuân Diệu lo mảng thơ và Hoài Thanh chịu trách nhiệm về môn lý luận phê bình văn học v.v… Gian khổ, khó khăn, thiếu thốn trăm bề nhưng vẫn vui, và cho đến mãi bây giờ, Bành Châu vẫn cho rằng đó là một trong những thời điểm đáng nhớ nhất của ông.

Kết thúc khóa học, học viên chia về các hướng. Bành Châu tình nguyện gia nhập Đoàn cán bộ tuyên truyền gây cơ sở địch hậu vùng trắng Sơn La – Lai Châu. Chàng trai ấy mang bí danh là cán bộ Ngô Huy, cõng 25 kí-lô trên lưng, cuốc bộ cả chặng đường dài Bắc Giang – Thái Nguyên – Tuyên Quang – Phú Thọ – Yên Bái – Hòa Bình – Sơn La – Sầm Nưa – Lai Châu… Anh cán bộ tuyên truyền Ngô Huy cùng đoàn quân “không mọc tóc” ấy đã lặp lại nguyên xi lộ trình của Quang Dũng mấy năm về trước, rồi đi tiếp, vào đến tận trung tâm vùng Mèo Háng Tông Tồng – Pú Nhung (Tủa Chùa) căn cứ địa kháng chiến nổi tiếng của Lai Châu. Với chiếc thuổng đào củ mài và gói kim-chỉ-đá lửa thay lương tháng, Ngô Huy cùng đồng đội đi mải miết cả năm trời – chiếc máy chữ Hermès Baby, cây đàn băng giô, tập ảnh chiến thắng để triển lãm lưu động; những ống vắc xin chủng đậu cho dân phải bó trong mấy lớp bẹ chuối tươi cho khỏi hỏng… Các cán bộ tuyên truyền ấy tới đâu là nhà, ngả đâu là giường và luôn luôn phải đương đầu với đủ mọi thứ nguy hiểm chết người mà nguy hiểm nhất là cái đói – đói gạo và đói muối. Vậy mà “cán bộ Huy” một ngày nọ, buổi sáng mổ ngực lấy mảnh mìn cho đồng chí xã đội trưởng xã Tú Nang xong, lấy gai mền tên ghim ảnh lên tấm chăn làm triển lãm, tối đến dùng que thông nòng súng nung đỏ dùi lỗ ống trúc làm sáo, biểu diễn văn nghệ phục vụ đồng bào xã Tú Nang lúc này đang phải tạm lánh sang đất Lào… Chủng đậu cho đồng bào Mèo, phải tạo vết cào xước để bôi thuốc lên tận bả vai vì sợ địch biết có Việt Minh lên gây cơ sở, sẽ đốt bản, giết dân… Dần dà, Bành Châu học nói được tiếng Mèo, viết chữ Thái, in truyền đơn bằng tiếng dân tộc rồi tiến đến làm báo Lai Châu kháng chiến. Báo gồm 4 trang, được in đá trên giấy Mèo khổ rộng, hai màu đỏ và đen, được cán bộ và bà con khen đẹp. Lúc ấy là năm 1951, một năm trước chiến dịch giải phóng Tây Bắc lần thứ nhất.

Hai vợ chồng ông Bành Châu ( Ảnh do gia đình cung cấp)

Hai vợ chồng ông Bành Châu ( Ảnh do gia đình cung cấp)

Những tưởng gắn bó lâu dài với vùng cao Tây Bắc, không ngờ cứ gượng mãi, đến sau chiến dịch Điện Biên Phủ được ít lâu thì Bành Châu gục hẳn bởi chín loại bệnh kinh niên… Hậu quả của những năm tháng ăn rừng ngủ bụi. Khu ủy đặc cách cho “cán bộ Huy” (phụ trách báo Tây Bắc) về chữa chạy ở bệnh viện Hồng Thập tự – Liên Xô (tức bệnh việt Việt-Xô sau này).

Qua cơn thập tử nhất sinh, Bành Châu được trên điều về công tác ở Xưởng phim Việt Nam, lúc đó do Phạm Văn Khoa làm giám đốc.

Nhớ lại thuở ban đầu ấy, giờ đây nhà biên kịch lớn tuổi vẫn cho rằng ông bắt đầu sự nghiệp điện ảnh của mình từ ba người thầy là Khiếu Nga, Duy Cương và Nguyễn Khắc Lương. Bành Châu trở thành biên tập viên và người viết thuyết minh phim thời sự – tài liệu chuyên nghiệp từ đó.

Năm 1959, Bành Châu được cử đi học tiếng Nga, rồi học khóa đại học biên kịch điện ảnh tại Học viện Điện ảnh toàn Liên bang Xô Viết (viết tắt là VGIK). Đây là bước ngoặt mới, vô cùng quan trọng và có ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ quá trình sáng tác của ông sau này. Bởi vì nếu như trước kia, Bành Châu “tự học mà thành” thì giờ đây “anh sinh viên già” đã có điều kiện trang bị những kiến thức lý luận cơ bản về nghề nghiệp nhờ đội ngũ đông đảo các nhà sư phạm dày dạn kinh nghiệm và hệ thống đào tạo quy mô có uy tín vào bậc nhất trên thế giới. Cũng từ mái trường ấy, ông có dịp tiếp xúc với hàng loạt kiệt tác điện ảnh của Liên Xô cũng như toàn thế giới và đắm mình trong những tác phẩm văn hóa tinh thần ưu tú của các nền nghệ thuật đông tây kim cổ. Đây chính là mạch nguồn quan trọng tạo nên vốn kiến thức sâu rộng của Bành Châu sau này.

( Còn tiếp)

Nguyễn Hậu

 


(*) Kể cả chú em nuôi, về sau thành nghệ sĩ sân khấu Mạnh Sinh.

(*) Núi là đồng đội của Dư, trong tổ ba người đi nghi binh hút bom. Mẹ Núi trong đoàn dân công địa phương đến phục vụ bộ đội.

Thư viện