” Giấc mơ Hà Nội” – Cuốn nhật ký bằng hình ảnh | Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ truyền hình

slideslideslide

categoryChia sẻ

” Giấc mơ Hà Nội” – Cuốn nhật ký bằng hình ảnh

Nhà báo Vũ Quang: Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc daotao.vtv.vn bài bình luận của nhà báo Phan Bích Liên – kênh truyền hình Quốc phòng về bộ phim tài liệu ” Giấc mơ Hà Nội”. Góc nhìn của Phan Bích Liên thể hiện thái độ ham học hỏi của chị từ một đạo diễn Mỹ qua bộ phim. Hơn thế chị rất quan tâm đến cách ” làm hình” của đạo diễn Tom Weidlinger…

Tác giả Phan Bích Liên (Người đứng ngoài cùng Bên trái ảnh)

Tác giả Phan Bích Liên (Người đứng ngoài cùng bên trái ảnh)

“Giấc mơ Hà Nội” – đó là một sự ghi chép bằng hình ảnh rất tài tình của đạo diễn người Mỹ Tom Weidlinger. Một cuốn nhật ký bằng hình ảnh, ghi lại hành trình các nghệ sĩ Mỹ và Việt Nam cùng hợp tác trong một vở kịch của William Sechpia mang tên “Giấc mộng đêm hè”.Câu chuyện của Tom Weidlinger cứ thế lần lượt hiện ra bằng những khuôn hình rất tự nhiên và chân thực.

“Giấc mơ Hà Nội” được sản xuất năm 2002,là bộ phim lần đầu tiên mà một đạo diễn Mỹ làm phim về Việt Nam mà không phải là phim chiến tranh. Câu chuyện của “Giấc mơ Hà Nội” khởi nguồn từ một chương trình giao lưu Văn hoá Việt – Mỹ, khi các nghệ sĩ Mỹ cùng các nghệ sĩ Việt kết hợp cùng diễn vở “Giấc mộng đêm hè ”của William Sechpia. Một chương trình giao lưu Văn hoá Việt – Mỹ xuất phát từ những người làm sân khấu của hai nước khởi xướng. Một dự án tốt đẹp về ý tưởng được nhiều sự ủng hộ của các cơ quan quản lý nhà nước, và được quỹ Ford tài trợ về kinh phí. Quan điểm của những người dựng vở kịch cho rằng họ sẽ bắt tay nhau bằng một “nụ cười” và hài kịch “Giấcmộng đêm hè” của William Sechpia sẽ mang lại “Niềm vui và Nụ cười” cho cả hai dân tộc. Tuy nhiên, sự kết hợp này quả không dễ dàng như những gì họ đề ra và tưởng tượng. Và “Giấc mơ Hà Nội” đã ghi chép lại bằng hình ảnh của sự kết hợp đó, nó khó khăn ra sao, khúc mắc ra sao và cách giải quyết của những người trong cuộc như thế nào.

Vở kịch “Giấc Mộng Đêm Hè” đã khai thác đặc tính hay thay đổi của tình yêu, bàn tới một thứ sức mạnh bí ẩn của con người. Dựa trên chính ngụ ý này, mà đạo diễn Tom Weidlinger đã mang tới cho người xem một “Giấc mơ Hà Nội”, cuộc hành trình bắt đầu từ thời khắc các nghệ sĩ Mỹ đặt chân tới sân bay Nội Bài (Hà Nội) và kết thúc cũng là thời khắc các nghệ sĩ Việt – Mỹ chia tay nhau tại đây.

Không khí chuẩn bị của đêm diễn đầu tiên – đêm tổng duyệt là những hình ảnh mở đầu cho “Giấc mơ Hà Nội”. Một loạt hình ảnh đặc tả những hành động, cử chỉ diễn tập của các diễn viên, nghệ sĩ từ tronghậu trường sân khấu. Những cảnh quay không ấn định đó phải là cận, là đặt tả, mà đó có thể là những cỡ cảnh rộng hơn, trung cảnh, nhằm thể hiện rõ hành động, cử chỉ của nhân vật cần miêu tả. Những cú vác vai, máy động và các câu hình không cần chuẩn chỉnh, khuôn mẫu.Nó theo nhịp của sự khẩn trương, hỗn độn của không khí chuẩn bị đêm diễn, và dường như báo trước một cái gì đó không suôn sẻ ở những khuôn hình tiếp sau.

Tôi thực sự ấn tượng với câu nói của diễn viên Mỹ Doug Miller (vai Laixando): “Tôi như người đánh cá dưới dòng nước với một tấm lưới và cố bắt tất cả những con cá đang bơi. Bởi tôi đang cố cảm nhận hết những gì xung quanh, cảnh tượng, con người, mùi vị, sự việc, đồ ăn …, mọi thứ. Đồng thời tôi sợ rằng 1 ngày nào đó tôi tỉnh dậy, và nhận ra rằng đó chỉ là giấc mơ. Các nhân vật trong vở kịch của chúng tôi phải tỉnh dậy và tự hỏi có phải là thật không ? ”. Một lời đề dẫn, một lời mở đầu cho một cuộc hành trình ghi chép, mà ở đó, mọi thứ được ghi chép một cách tỷ mỉ, chân thực và có sáng tạo. Một giấc mơ được dự báo ngay từ sự tự sự đầu tiên. Âm thanh của phố phường, xen lẫn âm nhạc tươi vui, “Tôi yêu Hà Nội” … tất cả là không khí đầu tiên của những nghệ sĩ Mỹ khi tới Hà Nội để bắt đầu một hành trình trong mơ –“một giấc mơ Hà Nội”.

Đoàn làm phim của đạo diễn William Sechpia đã theo chân các nghệ sĩ Mỹ và Việt trong suốt bảy tuần làm việc với số người lên tới 70. Những lát cắt của câu chuyện lần lượt hiện lên trên khuôn hình, rất tự nhiên, không có sự sắp xếp, dàn dựng. Sự ghi chép được bắt đầu từ những ngày đầu tiên, từ sự hào hứng, tò mò khám phá rồi đến sự ngỡ ngàng bởi những điều khác biệt, những khó khăn và mâu thuẫn cần phải giải quyết. Một loạt các phỏng vấn được đưa nối tiếp nhau, với cách bắt hình không theo quy chuẩn và khá ngẫu hứng. Việc này cho chúng ta cảm giác như đang nghe kể chuyện, một sự việc được kể lại, cứ tuần tự diễn ra không theo bất cứ một sự sắp đặt nào.

“Giấc mơ Hà Nội” chọn cách kể chuyện rất đặc biệt đó là việc sử dụng chính lời thoại của nhân vật để thay cho lời bình, thay cho lời kể chuyện. Toàn bộ mọi sự việc, diễn biến câu chuyện trong phim là do chính các nhân vật tự nói lên, ngay cả những mâu thuẫn, những khúc mắc họ cũng tự giãi bày. Khiến ta cảm tưởng công việc của đoàn làm phim chỉ là thực hiện công tác ghi chép lại, tường thuật lại.Những lao động nghệ thuật, những hi sinh vì nghệ thuật, những bất đồng ngôn ngữ Việt – Mỹ, những bất đồng về văn hóa, về quan điểm biểu diễn … đều được thể hiện bằng hình ảnh một cách tỉ mỉ, bám sát từng diễn biến và không kémsinh động.

Không biết là chủ ý hay là ngẫu nhiên, nhưng trong nửa đầu phim, những góc máy bắt phỏng vấn những nghệ sĩ Việt Nam thường rộng, trung cảnh, ngược lại các nghệ sĩ Mỹ thường lại có góc máy rất chặt. Phải chăng sự cảm nhận về nghệ sĩ Việt, con người Việt vẫn còn cần thêm thời gian tìm hiểu, còn những điều chưa sáng tỏ. Các phỏng vấn được trích dẫn sử dụng bắt đầu từ sự trải nghiệm, cảm nhận … chung chung, rồi đến quan điểm, ý kiến, và cuối cùng là phong cách làm việc, văn hóa làm việc. Chuỗi hình ảnh phỏng vấn đi theo trình tự đơn thuần, từ việc làm quen, bắt nhịp rồi tới sự hợp tác làm việc. Dần dần các mâu thuẫn, xung đột xuất hiện trong khi kết hợp làm việc. Cũng chính vì thế mà hình ảnh chẳng tuân thủ theo một khuôn mẫu nào, câu hình không tuần tự toàn – trung – cận mà đó có thể là hai, hay ba trungcảnh liên tiếp, các cú lia cùng trục … Nhưng những điều này lại chẳng làm người xem thấy gượng gạo, bởi hình ảnh tập trung vào việc ghi chép sựviệc, và sự ghi chép đó đạt độ tỉ mỉ tới mức cuốn người xem theo diễn biến của câu chuyện.Khuôn hình phỏng vấn không cố định, nó linh hoạt theo động tác, cử chỉ nhân vật. Sự ghi chép bằng những khuôn hình, nối tiếp đưa người xem từ sự việc này đến sự việc khác.

Trong phim duy nhất có một phỏng vấn đồng thời ba nghệ sĩ khi nói về cách nghệ sĩ Việt thể hiện nụ hôn trên sân khấu. Cần chú ý tới những phỏng vấn mang tính cộng đồng, tức là cần nói về một điều gì đó không chỉ của mỗi cá nhân. Đó là khi nói về sự khác nhau về văn hóa của hai dân tộc Việt và Mỹ. Nghệ sĩ Việt trên sân khấu chỉ sử dụng kĩ thuật biểu diễn để diễn tả cảnh hôn nhau, còn nghệ sĩ Mỹ thì không. Chính sự khác biệt này cũng tạo cho các diễn viên, đạo diễn có sự chênh, chưa ăn khớp trong diễn xuất. Tuy nhiên, ngay sau phỏng vấn “tập thể” là phỏng vấn của nghệ sĩ Mỹ Doug Miller: “Đây là một cuộc cách mạng, chúng tôi đã làm nên lịch sử khi hai nghệ sĩ tìm được cách nói chung”. Sự hòa hợp trong nghệ thuật, tạo cơ hội cho những hòa hợp sâu và rộng lớn hơn của hai đất nước Việt – Mỹ. Nối tiếp là chuỗi hình ảnh và âm thanh của sự vui mừng trong sự thành công ấy – sự thành công của sự hòa hợp trong tình yêu nghệ thuật.

“Giấc mơ Hà Nội” là sự ghi chép có biên tập bởi sự khéo léo và tài tình trong việc dựng phim của đạo diễn. Những khung hình tưởng chừng như chưa chau chuốt kia lại trở lên mạch lạc hơn bao giờ hết khi tái diễn lại câu chuyện một cách tuần tự từ ý đồ dựng phim lồng ghép giữa đời thực và kịch. Những dữ dội, mâu thuẫn trên sân khấu thì ở phía dưới sân khấu cũng dữ dội không kém. Thủ pháp dựng phim song song, từ cao trào mâu thuẫn, đến việc cởi nút thắt; mâu thuẫn nối tiếp mâu thuẫn, mâu thuẫn sau cao trào hơn mâu thuẫn trước … rất bám sát theo tiết tấu của vở kịch.Tôi đặc biệt ấn tượng bởi hai cú máy zum rộng dần khi diễn tả về sự không ăn khớp của các nghệ sĩ Việt –Mỹ. Ở 21’30” kĩ thuật trám phỏng vấn áp dụng với cú máy rộng, xa dần diễn tả sự không hiểu nhau của hai đạo diễn Việt và Mỹ. Lần thứ 2 sử dụng ở đoạn 28’09”, lại một cảnh rộng zum xa dần để diễn tả sự khó nắm bắt trong ngôn ngữ của nghệ sĩ Mỹ.

Một trường đoạn dựng tôi cũng khá ấn tượng khác đó là đoạn khi Kristen Brown (vai Helena) gặp khó khăn trong việc giao tiếp, trao đổi quan điểm với đạo điễn Doãn Hoàng Giang và ngay cả bạn diễn Đỗ Kỷ, ngay sau đó là những hình ảnh Helena đi lại trong phòng tập thoại câu “Đừng biến tôi thành một trò vui”- Một sự tinh tế trong cách dựng phim. Hay cách dựng đoạn nói về quan hệ Việt – Mỹ sau chiến tranh bằng lời thoại của nghệ sĩ Quang Thái giãi bày, đã có những giọt nước mắt khi nhớ lại sự tang thương của chiến tranh nhưng bằng tấm lòng của nghệ sĩ, một nghệ sĩ trong thời mở cửa thì: “Người xem sẽ chỉ yêu mến nghệ sĩ Mỹ và nghệ sĩ Việt Nam ở trên sân khấu mà thôi và chúng ta sống như những người tử tế với nhau”; Hay đạo diễn Doãn Hoàng Giang nói “Cái gì nó đã qua thì để cho nó đi qua”. Còn nghệ sĩ Mỹ Doug thì: “Toàn bộ chương trình khiến tôi như cưỡi trên lưng hổ, chỉ còn cách là cứ ngồi trên đó và tiến tới”

Âm thanh sử dụng trong phim chủ yếu là tiếng động hiện trường và lời thoại của nhân vật, đôi lúc dùng âm nhạc. Có những đoạn chuyển âm thanh hiệu quả chẳng hạn như đoạn chuyển qua thời kỳ mở cửa, nhạc bập bùng nổi lên với hình ảnh các cửa hàng loa đài, kinh doanh. Ngay sau đó là công việc tiếp thị dành cho buổi biểu diễn của Gendrine de Vis. Giám đốc tiếp thịGendrin de Vis cũng phải gặp khó khăn trong chuyện bất đồng ngôn ngữ, đó không chỉ là việc chuyển từ ngôn ngữ Việt sang ngôn ngữ Mỹ, mà còn là sự khác biệt giữa ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ kinh tế. Gendrin de Vis: “Tôi ghen tỵ với họ, khi diễn viên có ngôn ngữ chung, còn những người làm kinh tế thì không”.Stephany Moligen, chỉ huy sân khấu cũng gặp khó khăn trong việc trao đổi công việc, vì ở Việt Nam không có người đảm nhiệm công việc tương tự như của bà và bà lo lắng “sự đổ vỡ trong giao tiếp sẽ ảnh hưởng tới công việc”.

Có thể nói, “Giấc mơ Hà Nội” là một sự ghi chép thành công, đúng như nghệ sĩ Chiều Xuân có nói trongtrường đoạn cuối của phim: “Nếu muốn làm phim, tôi sẽ không làm những cái trên bề nổi, trên sân khấu khi mọi người đều thấy. Tôi phải làm những cái về cuộc sống, về sự hòa hợp, sự chia tay, mọi chuyện diễn ra như thế nào?”Tuy nhiên, cũng chính vì chú trọng bám sát nội dung câu chuyện, ghi chép theo sự việc diễn ra, nên “Giấc mơ Hà Nội” cũng còn những hạn chế. Có thể kể tới một số lỗi trong dựng hình. Chúng ta dễ dàng bắt gặp những khung hình cùng cỡ cảnh, cùng trục chẳng hạn đoạn tập kịch ở 20’26”. Hay các cảnh lồng ghép về hồi ức chiến tranh còn gượng. Hình ảnh mang tính minh hoạ, không ý nghĩa khi chỉ là từ một cái cổng (có thể là cổng làng, cổng chùa, cổng đình  …) nhìn ra cánh đồng để diễn tả về cuộc chiến tranh xâm lược trước đây của Mỹ ở Việt Nam. Hoặc trường đoạn nối sự bất đồng ngôn ngữ bằng hình ảnh Doug (vai Laixando) nằm vật ra giường ở 29’35” với cảnh chồng mờ ra cờ Việt Nam. Đây có thể coi là hạt sạn trong việc dựng hình.

Theo suốt dự án Giao lưu Sân khấu Việt – Mỹ này, đoàn làm phim của đạo diễn Tom Weidlingerđã theo chân các Nghệ sỹ đi tới được những phút giây thành công cuối cùng khi vở kịch được công diễn trong suốt một tháng ở ba thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng và Hồ Chí Minh với khoảng 9000 khán giả tới rạp. Sự thành công viên mãn của vở kịch, cũng chính là lúc các nghệ sĩ cảm nhận được niềm tin, sự thấu hiểu lẫn nhau. Buổi chia tay đầy hoa và nước mắt, những cái siết tay, những cái ôm … Đó chính là những khoảnh khắc đầy mầu sắc mà “Giấc mơ Hà Nội”đã ghi chép lại, mang tới cho người xem trong hơn 100 phút của phim./.

.

 

Phan Bích Liên

Kênh truyền hình quốc phòng

Thư viện