Giáo dục đại học trong thời đại toàn cầu hóa | Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ truyền hình

slideslideslide

categoryTài liệu học tập

Giáo dục đại học trong thời đại toàn cầu hóa

 

                                                
 

Bài viết nghiên cứu về những tác động của toàn cầu hóa lên hệ thống GDĐH của VN, đặc biệt là các trường cao đẳng cộng đồng. Bài viết cũng xem xét đến cả hai nhân tố địa phương và toàn cầu ảnh hưởng đến tương lai của các trường cao đẳng cộng đồng ở Việt Nam.

HIGHER EDUCATION AND GLOBALISATION

Abstract

The article studies the impact of globalisation on the higher education of Vietnam, especially on community colleges. The article also studies the local and global factors impacting the future of Vietnamese community colleges.

***

 

Toàn cầu hoá.  Khái niệm nhiều mặt này “nói đến sự mô tả và diễn giải về các tiến trình xã hội vượt qua các ranh giới của quốc gia” (Davies & Guppy, 1997, trang 436), và “các hệ thống và mối quan hệ ngày càng khắng khít hơn vượt ngoài phạm vi quốc gia” (Marginson & Rhoades, 2002, trang 288). Toàn cầu hoá liên quan đến sự chuyển động của nền kinh tế, kỹ thuật, con người và những ý tưởng vượt ra khỏi biên giới quốc gia, và nó tác động đến từng quốc gia một cách khác nhau do bối cảnh đặc thù của mỗi quốc gia (Knight, 1999). Trong giáo dục, toàn cầu hoá cũng nói đến sự tương tác chặt chẽ giữa chương trình giáo dục và kinh tế được thúc đẩy bởi các nhà tài trợ và các cơ quan hỗ trợ kỹ thuật lớn trên thế giới – như Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, và các cơ quan hỗ trợ nước ngoài” (Arnove, 2003, trang 2).

Chủ nghĩa tự do mới và trách nhiệm thực hiện: Một khuynh hướng mạnh mẽ của toàn cầu hoá là chủ nghĩa tự do mới, đã và đang được áp dụng rộng khắp trong các trường đại học (HEI) trên tòan thế giới. Olssen và Peters (2005) cho rằng văn hoá truyền thống về các nhu cầu trí tuệ trong GDĐH đang được thay thế bằng cách nhấn mạnh vào “việc thực hiện” được minh chứng qua các sản phẩm có thể đo lường được mà các sản phẩm này được phản ánh trong các kế hoạch chiến lược, những chỉ số chất lượng và sự kiểm tra học thuật (trang 316). Theo như Levin (2001a), chủ nghĩa tự do mới dẫn đến một “văn hóa kinh doanh” trong đó các hành vi tổ chức nhấn mạnh việc thực hiện, ví dụ như năng suất hoạt động (trang 64).

Sự năng động của chủ nghĩa tự do mới  bao gồm (a) Chính phủ tăng quyền tự chủ cho các trường đại học bên cạnh yêu cầu họ nâng cao tính trách nhiệm xã hội; (b) giảm ngân sách trợ cấp của nhà nước; (c) Chính phủ định hướng các trường đại học thông qua pháp luật, chính sách và khuyến khích hỗ trợ kinh phí; (d) yêu cầu nhiều hơn đối với các trường đại học để họ họat động cạnh tranh, hiệu quả, và có năng suất; (e) tăng áp lực cho các trường để họ trở thành các nhà kinh doanh trong việc tự tìm nguồn ngân quỹ cho mình; và (f) tăng áp lực cho các trường để họ thiết lập mối quan hệ với các cơ sở công nghiệp để đảm bảo rằng chương trình đào tạo thích hợp với nhu cầu nguồn nhân lực (Levis, 2001a, 2001b, 2005; Mok, 2003; Newman, Couturier, & Scurry, 2004; Stromquist, 2002).

Chính phủ thực hiện chính sách định hướng thị trường đã tạo nên một nhu cầu gia tăng về việc đào tạo các kỹ năng cho phù hợp (Davies & Guppy, 1997). Trong một nền kinh tế tri thức hiện nay, việc cải cách chương trình GDĐH phải bao gồm cả về kiến thức và những kĩ năng mới, suy nghĩ sáng tạo và có phê phán, giải quyết vấn đề và óc thương mại hoá (Davies và Guppy, 1997; Mok, 2003); hỗ trợ từ bên dưới của nền kinh tế tri thức cũng làm hình thành thói quen học tập suốt đời là một yếu tố quan trọng trong nền GDĐH.

Các khái niệm về quốc tế hoá. Giống như toàn cầu hoá, quốc tế hoá cũng mang những ý nghĩa khác nhau trong các tài liệu. Trong thị trường cạnh tranh và thương mại hoá về GDĐH trên toàn cầu, quốc tế hoá liên quan chủ yếu đến việc tuyển chọn sinh viên quốc tế và các hoạt động có liên quan. Nghiên cứu của Levin (2001a) cho thấy rằng vào năm 1997 tại 1 trường CĐCĐ ở Hoa kỳ, lợi nhuận thu từ những sinh viên quốc tế là 1,4 triệu đô la so với 156.000 đô la thu được từ những sinh viên bản địa. Mặc dù, quốc tế hoá trong bối cảnh đất nước VN hiện nay có liên quan nhiều hơn đến việc các cuộc viếng thăm của các giảng viêng và những chuyên gia khác nước ngoài, cũng như sự hợp tác giữa những trường đại học từ các quốc gia khác nhau, cũng có thể nói rằng VN đang bị ảnh hưởng ngày càng nhiều bởi những gì mà ông Levin (2005) đề cập như sự thương mại hoá sinh viên thông qua sự cạnh tranh quốc tế.

Khái niệm quốc tế hoá được xem như một “phép biện chứng giữa toàn cầu và địa phương” (Arnove, 2003, trang 2) thì cũng rất cần thiết để giúp chúng ta hiểu được sự năng động của việc toàn cầu hoá cụ thể là ở một nước đang phát triển như VN. Ông Ngô, Lingard và Mitchell (2006) cho rằng khái niệm “toàn cầu hoá bản địa” của Appadurai đã tạo điều kiện phân tích việc cải tổ GDĐH ở VN bởi vì nó giải thích rằng kết quả của sự thay đổi phải xuất phát từ sự tích hợp ý kiến trao đổi về việc cải tổ nền GDĐH trên toàn cầu và lịch sử văn hoá của địa phương (trang 226). Thêm vào đó, ông Ngô, Lingard và Mitchell (2006) đề cập đến “những yếu tố chính trị nhỏ đối với việc thực hiện” thông qua việc minh họa “cách thức các yếu tố thuộc về địa phương như là diện tích, các mối quan hệ nội bộ, sự cam kết, công suất và tính phức tạp phức tạp cơ chế đã hình thành các phản hồi đối với chính sách giáo dục và tiếp thu một cách có chọn lọc các ý kiến của phương Tây liên quan đến GDĐH” ở VN (trang 226).

Xu hướng toàn cầu trong giáo dục đại học

Stromquist (2002) đã đưa ra ý kiến về sự phát triển toàn cầu hoá về kinh tế tao ra nhu cầu về giáo dục như là một công cụ, “điều đó gắn liền với mục tiêu sản xuất, năng suất và tuyển dụng” (trang 105). Điều này đưa đến sự chuyên môn hoá và đa dạng hoá các loại hình các trường trung học.

Sự đa dạng hoá. Nhiều quốc gia đã sử dụng thuật ngữ đa dạng hóa như là sự phản hồi đối với các trường đại học nhằm đáp ứng những yêu cầu nhân lực khác nhau đối với sự đa dạng về các ngành nghề khác nhau và mở ra những thị trường giáo dục đến những nhà kinh doanh tư nhân. Stromquist (2002) nói rằng sự đa dạng hoá đòi hỏi phải bãi bỏ những quy định, chuyển gánh nặng về tài chính cho sinh viên và phụ huynh đồng thời cung cấp sự lựa chọn cho sinh viên, vì thế sẽ tăng tính cạnh tranh tìm kiếm sinh viên. Levin (2005) đã kết luận trong bài nghiên cứu của ông ấy về sự toàn cầu hoá tại 7 trường CĐCĐ ở Bắc Mỹ rằng những nỗ lực nhằm tiết kiệm, tăng năng suất và cạnh tranh của các trường CĐCĐ đã tạo ra khuynh hướng cho các trường hướng đến việc họat động như các doanh nghiệp.

Stromquist (2002) tiên đoán rằng ở những nước đang phát triển, sự toàn cầu hoá sẽ thể hiện thông qua việc áp dụng những sáng kiến đã được sử dụng ở những nước phát triển bao gồm sự phân quyền, sự tư hữu hoá, việc đánh giá kết quả của sinh viên và sự liên kết chặt chẽ giữa giáo dục và các cơ sở công nghiệp. Hơn thế nữa, nó còn có ý nghĩa quan trọng đặc biệt đối với các trường CĐCĐ, Stromquist (2002) cũng đã nhận định “sự toàn cầu hoá sẽ tạo ra… yêu cầu một số ít các sinh viên tốt nghiệp đại học trong khi đảm bảo sẽ tiếp tục có những người được đào tạo ở bậc thấp hơn” (trang xxi). Ví dụ, ở Hoa Kỳ chỉ có khoảng 40% – 50% các ngành nghề cần cho nền kinh tế (tri thức) mới sẽ đòi hỏi phải có bằng đại học; “còn các chứng nhận về thương mại hay đào tạo nghề” sẽ phù hợp hơn cho nhu cầu lao động (Stromquist, 2002, trang xxi).

Sự phân quyền. Tuy nhiên, xu hướng toàn cầu không nhất thiết phải hoạt động giống ở từng cấp độ quốc gia. Mok (2003) đưa ra một ví dụ rất cụ thể về điều này khi bàn về những cải cách GDĐH ở Đông Á. Chính sách về sự phân quyền đang được thực hiện tại 4 quốc gia đáng gờm (four Tigers) (Hongkong, Singapore, Đài Loan, và Đại lục Trung Quốc), những quốc gia đã từng duy trì hệ thống giáo dục mang tính tập trung rất cao trong lịch sử của họ. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là bãi bỏ những quy định hay không có sự quản lý của nhà nước bởi vì nhiều cơ chế về trách nhiệm giải trình đã được hình thành bao gồm kiểm định, đánh giá thực hiện, và tiêu chí đối sánh với các trường đại học hàng đầu của thế giới. Do đó, vai trò của nhà nước trong việc ban hành các quy định và phối hợp đã trở nên mạnh mẽ hơn và một số nhà giáo dục xem việc bãi bỏ các quy định là môt hình thức “tái điều chỉnh lại”(Mok, 2003, trang 208). VN cũng đang trên con đường hướng tới phi tập trung, tự chủ hơn, và có trách nhiệm xã hội cao hơn tương tự như những gì đang xảy ra với cuộc cải cách GDĐH ở Đông Á.

Việc tổ chức lại hệ thống GDĐH. Varghese (2004) đã có một buổi thuyết trình ở Trường Đại học Huế, miền Trung VN, xác định một số khuynh hướng toàn cầu mà đã dẫn đến kết quả cơ cấu lại GDĐH trên toàn thế giới. Nhà nước tài trợ việc phát triển mở rộng GDĐH đến cuối thập niên 70, khi khủng hoảng kinh tế đã làm ảnh hưởng đến sự sụt giảm về ngân quỹ. Có sự thay đổi từ việc chú trọng GDĐH chuyển sang hỗ trợ giáo dục tiểu học dựa trên ý kiến quốc tế phổ biến cho rằng giáo dục tiểu học thì hiệu quả hơn; ý kiến này cũng được phản ánh trong việc tài trợ của Ngân hàng Thế giới. Tuy nhiên, Jamil Salmi, một chuyên gia về chính sách Ngân hàng Thế giới, luôn nhận định rằng một hệ thống giáo dục đại học tốt là rất cần thiết để phát triển một hệ thống giáo dục tiểu học tốt (Bolag, 1998). Việc bãi bỏ những quy định đã xuất hiện cùng với ngày sự giảm thiểu hệ thống kinh tế tập trung nhất và có nhiều hệ thống GDĐH theo định hướng thị trường nhiều hơn. Đó là sự chuyển đổi theo hướng những chính sách tự do hóa và tư nhân hóa nhằm giúp phát triển tiến trình toàn cầu hoá. Và cuối cùng, với sự mở rộng về kinh tế tri thức và ngày càng có nhiều nước tham gia vào sự toàn cầu hoá, “giá trị về… GDĐH đã được phát minh lại trong nhiều nước đang phát triển và nhiều chính phủ sẵn sàng hỗ trợ mở rộng GDĐH” (Varghese, 2004, trang 11). Chúng ta có thể nhìn thấy tất cả các khuynh hướng này trong sự phát triển của hệ thống GDĐH ở VN, mặc dù sự chuyển đổi của đất nước này đi từ nền kinh tế kế họach tập trung chuyển sang nền kinh tế theo định hướng thị trường nhiều hơn trong GDĐH đã bắt đầu diễn ra sau vào năm 1987. (…)

*

Toàn cầu hóa và chủ nghĩa tự do hiện đại đã thay đổi hệ thống GDĐH của VN, và cụ thể hơn là giúp cho sự phát triển các trường cao đẳng cộng đồng (CĐCĐ). VN tìm kiếm sự hội nhập vào nền kinh tế TG, cũng được gọi là nền kinh tế tri thức. Việc tổ chức lại hệ thống GDĐH được xem là phương tiện rất quan trọng để đạt được sự hội nhập như thế. Có lẽ, sự ảnh hưởng có ý nghĩa quan trọng nhất của toàn cầu hoá đến các trường CĐCĐ VN nằm trong sự hình thành và mở rộng hơn là sự định hình.

Những tác động ở tầm vĩ mô của sự toàn cầu hoá về kinh tế nhất thiết phải có một đội ngũ lực lượng lao động được đào tạo và có kỹ năng lành nghề. Sự tác động của toàn cầu hoá như thế đã mở cửa cho việc thành lập các trường CĐCĐ ở VN. Nhưng việc thành lập như thế này cũng tạo ra 2 thách thức điạ phương: (a) một nền văn hóa đánh giá bằng đại học cao hơn và (b) việc nhận ra sự thiếu hiểu biết về phía các viên chức nhà nước và công chúng về khái niệm trường CĐCĐ là gì hoặc nên là gì. Tóm lại, phát triển các trường CĐCĐ là một việc khó khăn và sẽ mất thêm một số năm nữa mới xác định được là mô hình đào tạo này có thể thành công trong bối cảnh tòan quốc và địa phương hay không.

Mối quan hệ biện chứng giữa toàn cầu hóa và địa phương

Các trường CĐCĐ VN đã tìm kiếm những ý tưởng trong việc thiết lập bản sắc và tổ chức của mình. Ví dụ, trong dự thảo có nói: “các trường CĐCĐ chịu trách nhiệm đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương, có liên quan mật thiết cộng đồng địa phương, đào tạo theo nhu cầu với sự đa dạng trong chương trình và mô hình đào tạo” (MOET, 2007a, trang 2). Mặc dù (các trường Cao đẳng Cộng đồng VN) phù hợp với những tuyên bố về sứ mệnh của các trường CĐCĐ Bắc Mỹ, nhưng về mục đích thì không giống như mô hình của các trường ở Bắc Mỹ. Xét về lịch sử, nền GDĐH ở VN chịu ảnh hưởng lớn từ các nước khác trong đó có Trung Quốc, Pháp và Cộng hoà liên bang Nga. Tuy nhiên, theo nhận định của ông Tran (1998), những tác động bên ngoài đều được VN hóa khi ứng dụng vào bối cảnh của từng địa phương. Do vậy VN đã tạo dựng một mô hình rất xuất sắc thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa cái tòan cầu và cái địa phương.

Ở tầm vi mô có lẽ sự thách thức lớn nhất đối với VN là cân bằng khung chương trình giữa đào tạo các kỹ năng đào tạo và giáo dục. Lực lượng lao động hiện nay phải hoạt động trong nền kinh tế tri thức, điều này có nghĩa là buộc họ phải có khả năng suy nghĩ phê phán và sáng tạo, giải quyết vấn đề và có kiến thức về văn hóa, ngôn ngữ, lịch sử, đặc điểm địa lý và kinh tế thế giới. Một chương trình đào tạo chỉ tập trung vào đào tạo kỹ năng thôi thì chưa đủ. Quan tâm đến những yếu tố này là quan trọng đối với tương lai của các trường CĐCĐ, đặc biệt là cái nhìn thực tế đã có các trường CĐCĐ hay những cơ sở đào tạo đại học tương tự khác trong hầu hết các quốc gia (Elsner, Boggs, & Irwin, đang in).

Những cuộc thảo luận về cách thức cân bằng chương trình giữa đào tạo và giáo dục thì thực sự phức tạp. Farnsworth (2007), nguyên là Hiệu trưởng Trường CĐCĐ ở Mỹ và hiện là Giám đốc Trung tâm về Giáo dục và Lãnh đạo CĐCĐ quốc tế thuộc Trường Đại học Missouri, St. Louis, mô tả trong cuộc đàm thoại giữa ông ấy với một đồng nghiệp được đào tạo tại Hoa Kỳ ở Trung Quốc về việc đưa ra lời giải thích có thể cho “sự sáng tạo của người Mỹ”. Họ kết luận rằng nó là sản phẩm của “một nền giáo dục rộng khắp chuyên phục vụ một bối cảnh học tập xã hội, văn hóa và lịch sử” (Farnsworth, 2007, tr.14). Thế nhưng Farnsworth (2007) cũng kiểm chứng với sự lo ngại về khái  niệm mà có thể có điều chỉnh về sự phát triển mức độ của kỹ thuật ứng dụng ở các trường CĐCĐ mà thực ra những nơi này thì vẫn chưa có thành tố giáo dục đại cương, và nó giống với chương trình của nhiều trường kỹ thuật độc quyền đầy cạnh tranh và rất mắc tiền ở Bắc Mỹ. Nhưng có lẽ một điểm khác biệt quan trọng giữa bối cảnh GDĐH ở Bắc Mỹ và VN là sinh viên Bắc Mỹ có nhiều sự lựa chọn và nhiều cơ hội để vào học đại học. Farnsworth (2007) nhận ra rằng có lẽ sẽ có nhiều trường và cả người học sẽ không đồng ý với những kiến nghị của ông ấy hay cách nhận định của ông ấy. Tóm lại, mặc dù những thách thức và sự đa dạng hoá về quan điểm có liên quan đến sự cân bằng chương trình đào tạo là Tòan cầu, câu trả lời thích hợp vẫn thuộc về từng điạ phương.

Hơn nữa, những kỹ năng khác cũng rất cần thiết cho lực lượng lao động kinh tế tri thức ở hiện tại và cả tương lai, các nhà nghiên cứu đã trích dẫn kỹ năng làm việc theo nhóm là rất quan trọng (National Center on Education and the Economy, 2007). Một báo cáo về nghiên cứu có tựa đề “College Learning for the New Global Century” nêu: uỷ viên ban quản trị của 305 công ty Mỹ đã thuê ít nhất 25 người và yêu cầu họ sắp xếp tầm quan trọng của những kỹ năng đối với những người xin việc: “3 sự lựa chọn hàng đầu đó là ‘kỹ năng làm việc theo nhóm/sự chung sức’, ‘khả năng tư duy phê phán và kỹ năng phân tích’, và ‘khả năng giao tiếp qua nói hoặc viết’” (Vance, 2007, tr. 4). Khả năng làm việc theo nhóm thì rất khó đối với hầu hết các xã hội, nhưng có lẽ là đối với hệ thống GDĐH ở VN, kể cả các trường CĐCĐ, sẽ gặp nhiều thách thức trong việc tìm lời giải đáp. Nguyen Xuan Thu (1997) cho rằng yếu tố cấu thành cần thiết để đi đến thành công là khả năng làm việc theo nhóm (sự chung sức) nhưng điều này còn thiếu ở VN; thiếu chương trình, quản lý và quản trị những điều này sẽ thúc đẩy tinh thần làm việc theo nhóm trong hệ thống GDĐH ở VN. Ông ấy cũng thêm rằng con người cần phải học cách làm việc chung với nhau trong tổ chức phức tạp. Sự thật là, Nguyen (1997) đã mô tả 3 vấn đề quan trọng đối với GDĐH ở VN đã được trình vày trong tham luận này: (a) khả năng làm việc theo nhóm, bao gồm cả trong phạm vi trường học và xuyên qua mạng lưới thế giới; (b) sự thích hợp và sự ứng dụng kiến thức vào thực hành, và (c) nhu cầu phải đầu tư đào tạo hàng ngàn người chưa được nhận vào học đại học.

Sự toàn cầu hóa đã mở cửa cho việc thành lập các trường CĐCĐ ở VN. Sự năng động  của chủ nghiã tự do hiện đại có thể làm tăng tính tự chủ và như vậy làm cho họ có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu của cộng đồng, nhưng nếu nguồn quỹ từ Ủy ban Nhân dân tỉnh, học phí, và các hoạt động kinh doanh chưa đủ, hoặc nếu các trường này không tạo được sự hiểu biết tốt hơn trong số những nhà đầu tư quan tâm đến vai trò của trường CĐCĐ thì tương lai của họ có thể sẽ mong manh. Nhưng cũng có một vài điểm khả quan trong bức tranh hỗn độn này. Nhà nước đặc biệt đề cập đến trường CĐCĐ qua các phương tiện thông tin đại chúng như là một nhân tố quan trọng để đào tạo lực lượng lao động cho tương lai. Hơn thế nữa, việc Bộ GD&ĐT cho phép các Hiệu trưởng các trường CĐCĐ đưa ra dự thảo về việc điều hành trường CĐCĐ, điều này rất cần thiết cho sự tồn tại bền lâu của họ, và Bộ Nội vụ đã ban hành quyết định thành lập Hiệp hội các trường CĐCĐ VN.

Có lẽ theo lời khuyên của Ngo, lingard và Mitchell (2006) là: “việc cải cách nền GDĐH, đặc biệt là ở những nước đang phát triển…không nên chỉ nhằm mục đích là phục vụ cho những thách thức của sự toàn cầu hoá và những thành tựu về lợi ích cho quốc gia mà còn phải xem xét bối cảnh ở tầm vi mô của điạ phương để đạt được sản phẩm đầu ra như mong ước” (trang 226).

Người dịch: Đỗ Quốc Trung- Nguyễn Thanh Phượng

Tài  liệu tham khảo

  1. Kỷ yếu Hội thảo Giáo dục so sánh lần thứ hai, năm 2008, ĐH Sư phạm TPHCM
  2. Website: http://gddhhoinhapquocte.vnuhcm.edu.vn/site/vn/.

 

(Diane E. Oliver , Tạp chí KH Văn hoá và Du lịch, SỐ 12 (66), THÁNG 7 NĂM 2013)

Thư viện