Lý Văn Sáu, nhà báo đầy nhiệt huyết, năng động và sáng tạo | Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ truyền hình

slideslideslide

categoryTrao đổi nghiệp vụ

Lý Văn Sáu, nhà báo đầy nhiệt huyết, năng động và sáng tạo


Anh Lý Văn Sáu tên khai sinh là Nguyễn Bá Ðàn, quê ở Nghệ An, ngay những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, đã theo đoàn quân “Nam tiến” vào hoạt động ở mặt trận Nha Trang (Khánh Hòa). Ở đó, từ rất sớm, anh đã chứng tỏ là một chiến sĩ năng động, sáng tạo trên mặt trận tuyên truyền báo chí, diễn thuyết và viết báo đều hay. Từ năm 1947, anh đã là chủ bút tờ báo Thắng, tiền thân của báo Khánh Hòa ngày nay.

Kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Theo những con đường khác nhau, chúng tôi đều từ Liên khu 5 tập kết ra Bắc. Anh về công tác ở Ban Tuyên Huấn Trung ương. Còn tôi, về Báo Nhân Dân. Cái nghiệp tuyên truyền báo chí cứ thế quấn quýt chúng tôi trong nhiều năm. Chủ đề chung vẫn là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà. Cho đến khi Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam ra đời, và sau khi đã tốt nghiệp Trường Ðảng cao cấp trực thuộc Ban chấp hành Trung ương Ðảng Cộng sản Liên Xô về nước, anh được điều về nhận công tác ở Ban Thống nhất Trung ương. Anh trở thành cán bộ của Mặt trận và rất sớm tham gia công tác đối ngoại, được cử làm Phó Trưởng đại diện Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam tại Cu Ba. Nếu tôi không nhầm thì cái tên Lý Văn Sáu ra đời từ đấy. Sau thắng lợi cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, Mỹ buộc phải nhận đàm phán với Việt Nam Dân chủ cộng hòa (Hội nghị 2 bên từ tháng 5 đến tháng 10-1968) và sau đó là Hội nghị Pari về Việt Nam (Hội nghị 4 bên từ tháng 1-1969 đến tháng 1-1973).

Không biết đất trời xui khiến thế nào, cả anh và tôi đều được chọn tham gia Ðoàn đàm phán của Mặt trận tại Hội nghị Pari; anh là cố vấn, còn tôi là thành viên trong Ðoàn. Anh được phân công làm Người phát ngôn, còn tôi chuyên viết các bài phát biểu chuẩn bị sẵn của Trưởng Ðoàn ta. Chính 5 năm hoạt động tại Hội nghị Pari đã làm cho Lý Văn Sáu nổi tiếng như một vị “quan báo” tài năng, thông minh, sắc nhạy, biết ứng phó một cách khôn khéo những tình huống gay cấn nhất. Nói “quan báo” là bởi, vào thời gian diễn ra Hội nghị Pari, rất nhiều nhà báo của chúng ta được cử sang phục vụ, một số trực tiếp làm nghề báo bên ngoài Hội nghị được gọi là “dân báo”; một số khác tham gia với tư cách nhà đàm phán mà Lý Văn Sáu là một người như vậy. Là một trong những người phát ngôn của Ðoàn, hàng tuần, sau mỗi phiên họp chính thức của Hội nghị, anh mở họp báo, trực tiếp thông báo tình hình Hội nghị và trả lời các nhà báo về bất cứ câu hỏi nào. Ðó là chưa kể những cuộc họp báo bất thường, những cuộc tiếp xúc như cơm bữa với các nhà báo nước ngoài.

Ngay tại cuộc họp báo sau phiên họp đầu tiên của Hội nghị Pari, đã có một việc bất ngờ xảy ra. Một nhà báo Mỹ đưa ra một tấm bản đồ khá lớn và hỏi người phát ngôn của ta: “Mặt trận các ông thường khoe là kiểm soát được tới hai phần ba lãnh thổ Nam Việt Nam, vậy ông vui lòng chỉ cho tôi xem trên tấm bản đồ này các vùng giải phóng đó ở đâu?”. Lý Văn Sáu gọn ghẽ trả lời: “Ðiều ông hỏi cũng là điều Bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở Sài Gòn muốn biết. Xin ông hãy đọc thông báo quân sự của Mỹ ngày hôm nay, xem máy bay của họ ném bom nơi nào ở miền Nam Việt Nam, những nơi ấy chính là vùng giải phóng của chúng tôi đấy”. Nhiều tiếng vỗ tay tán thưởng trong phòng họp. (Vào thời điểm này, quân Mỹ và Sài Gòn đang ráo riết phản công, đánh phá ác liệt và lấn chiếm phần lớn các vùng giải phóng của ta. Còn máy bay Mỹ, kể cả B52 thì ném bom khắp nơi, ngay cả ngoại vi Sài Gòn).

Cuộc họp báo sau phiên họp thứ hai của Hội nghị Pari cũng diễn ra sôi nổi. Trong phiên họp này, đại biểu chính quyền Sài Gòn góp nhặt tất cả những luận điệu chống cộng rẻ tiền, xuyên tạc nguồn gốc chiến tranh Việt Nam và cuộc đầu tranh của nhân dân ta, nói xấu Mặt trận và nói xấu Miền Bắc, huênh hoang khoe chế độ Sài Gòn là độc lập, dân chủ, yêu nước. Phía ta đã bác bỏ mọi luận điệu ấy và vạch ra rằng chính Mỹ là kẻ chà đạp lên Hiệp định Genève năm 1954, xâm lược miền Nam và lập nên chế độ bù nhìn thối nát, độc tài tay sai cho Mỹ. Những dẫn chứng xác đáng và lý lẽ đanh thép của ta khiến đại biểu Sài Gòn không ngửng mặt. lên được. Tại cuộc họp báo, một nhà báo Pháp hỏi người phát ngôn của ta: “Ông nghĩ gì về việc trưởng đoàn Sài Gòn khoe khoang bản chất tốt đẹp của chính quyền họ?”. Lý Văn Sáu đáp: “Con lạc đà chui qua lỗ trôn kim còn dễ hơn chính quyền Sài Gòn tự cho mình là độc lập, dân chủ, yêu nước”. Có tiếng cười trong phòng họp. Hôm sau, tờ báo công giáo La Croix viết: “Người phát ngôn Việt Cộng cũng đang dùng ngụ ngôn trong Kinh Thánh”.

Ở một cuộc họp báo khác, lại có chuyện “Trung ương cục ở đâu?”. Trung ương cục là cơ quan lãnh đạo của Ðảng ta ở miền Nam, Mỹ gọi là COSVN (Central Office for South Vietnam). Quân Mỹ mở nhiều chiến dịch tiến công vào vùng Móc Câu – Mỏ Vẹt hòng “cất vó” cho được VOSVN. Nhưng khi “vòng vây khép lại” thì như chính họ thừa nhận, chỉ tìm thấy được vài túp lều bỏ trống. Nhà bảo hỏi: “VOSVN của các ông biến đi đâu mà tài thế?”. Lý Văn Sáu chỉ vào tim mình và trả lời: “Các nhà lãnh đạo của chúng tôi ở trong lòng nhân dân nên quân Mỹ không thể nào tìm bắt họ được. Có thể giờ này họ đang ở Sài Gòn”.

Sau Hiệp định Pari về Việt Nam (27-1-1973), cuộc chiến đấu gian khổ của ta còn tiếp diễn thêm hơn hai năm ba tháng nữa mới đi đến thắng lợi hoàn toàn vào ngày 30-4-1975. Lý Văn Sáu và các đồng nghiệp trở lại mặt trận tuyên truyền, báo chí quen thuộc của mình trong thời kỳ mới. Anh lần lượt đảm nhiệm nhiều chức vụ: Phó Chủ nhiệm Ủy ban Phát thanh và Truyền hình Việt Nam kiêm Tổng biên tập Ðài Truyền hình Việt Nam, Tổng Biên tập Ðài Tiếng nói Việt Nam, Phó Tổng biên tập Thông tấn xã Việt Nam. Anh còn là Ủy viên thư ký Ban chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam. Trong khi giữ cương vị lãnh đạo và quản lý ấy, anh vẫn tiếp tục viết báo, trả lời các phương tiện thông tin đại chúng. Ngòi bút của anh sắc sảo, giọng văn thanh thoát, dễ đi vào lòng người. Lúc đã nghỉ hưu, anh vẫn miệt mài với công việc, tham gia biên tập nhiều tập sách có giá trị nói về cuộc chiến đấu của chúng ta. Tập sách “Mặt trận Dân tộc giải phóng, Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị Pari về Việt Nam” do bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Trưởng Ðoàn đàm phán của ta tại Hội nghị Pari, chủ biên là một trong những thí dụ.

Sau mấy lần bị tai biến, đi lại phải bằng xe lăn, anh vẫn hàng ngày ngồi bên bàn làm việc, với những phương tiện vốn có và chiếc máy vi tính không mấy hiện đại của mình, tiếp xúc rộng rãi thông tin trên mạng và cũng qua đó, tiếp tục có những bài viết mới.

Ngày 19-4-2012 là ngày cuối cùng bà Nguyễn Thị Bình và tôi đến thăm anh tại Bệnh viện 103. 11 ngày sau đó, ngày 30-4, anh từ giã chúng ta và đi vào cõi vĩnh hằng vào đúng cái ngày mà 37 năm về trước, đất nước ta mừng Ðại thắng Mùa xuân 1975. Gia đình, bạn bè và những người làm báo chúng ta rất tiếc thương anh. Nhưng biết đâu, chính vào giờ phút này, ở cõi vĩnh hằng xa xăm ấy, anh lại đang vui vầy hội ngộ với những lớp nhà báo đàn anh và cả những đồng nghiệp cùng thời đã sớm về nơi đó.

Thư viện