Nhà báo Diệu Ngân: ” Giấc mơ Hà Nội” dạy tôi cách phỏng vấn nhân vật | Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ truyền hình

slideslideslide

categoryChia sẻ

Nhà báo Diệu Ngân: ” Giấc mơ Hà Nội” dạy tôi cách phỏng vấn nhân vật

Nhà báo Vũ Quang:  Nguyễn Hoàng Diệu Ngân – Kênh Quốc phòng Việt Nam một trong 31 học viên của khóa học ” Sản xuất phim tài liệu” vừa kết thúc tốt đẹp tại trung tâm bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí – Hội nhà báo Việt Nam. Bộ phim ” Giấc mơ Hà Nội” của đạo diễn Mỹ Tom Weidlinger dài 101 phút được trình chiếu như một ví dụ về cách làm phim tài liệu hiện đại  trong khóa học. Tôi đã ra bài tập cuối khóa là viết bài bình luận về bộ phim. Bài bình luận của nhà báo Diệu Ngân là một bài viết khá sâu sắc giàu tính nghề nghiệp về bộ  phim. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc của daotao.vtv.vn

Tác giả Diệu Ngân thứ ba từ bên trái ảnh

Tác giả  bài viết Diệu Ngân người thứ tư từ bên trái ảnh

          Đề tài: Anh, chị hãy cho biết những cảm nhận của mình về phim tài liệu “Giấc mơ Hà Nội” (dựa trên sự kiện dàn dựng, công chiếu vở kịch “Giấc mộng đêm hè” của đại danh hào nước Anh William Shakespeare giữa các đạo diễn, diễn viên Mỹ và Việt Nam vào thời điểm hai nước mới bình thường hóa quan hệ).

           Khi đi tìm kiếm những thông tin cho bài viết này, tôi rất ấn tượng với một nhận định của nữ giáo sư văn học Anh – Bà Lorelle Browing. Bà nhận xét: Giấc mơ Hà Nội ”Là bộ phim đầu tiên về Việt Nam và Mỹ mà không nói về chiến tranh. Nó sẽ làm sáng tỏ về con người Việt Nam, những người mà nhiều người Mỹ vẫn chỉ nghĩ đến họ với khái niệm về chiến tranh. Mọi người sẽ ngạc nhiên vì vẻ đẹp và sự phát triển của dải đất hình chữ S…”.

          Trong cuộc sống và trong cả công việc của bất cứ ai, những lần đầu tiên/trải nghiệm, thử nghiệm đầu tiên/sản phẩm đầu tiên/thành công, thất bại đầu tiên… đều để lại những hồi hộp, náo nức cho người trong cuộc và sự háo hức, đợi chờ của người thụ hưởng/khán giả/người trải nghiệm/công chúng.

          Đây rõ ràng không phải bộ phim đầu tay của các tác giả người Mỹ, nhưng có lẽ là bộ phim đầu tiên về Việt Nam – một đất nước vừa trải qua hàng chục năm chiến tranh, bom đạn đau thương, một đất nước mà không ai có thể mường tượng được sẽ vực dậy như thế nào sau chiến tranh. Đã 25 năm sau cuộc chiến tranh ở thời điểm đoàn làm phim và êkip đạo diễn, diễn viên Mỹ đến Việt Nam… 25 năm- thời gian đủ cho một em bé sơ sinh trưởng thành, vậy mà lần đầu tiên các nhà làm phim không nhắc đến Việt Nam với chủ đề chiến tranh…

           NHỮNG CẢM NHẬN VỀ TRAILER GIỚI THIỆU PHIM

          Hình ảnh đầu tiên vào phim là chú rồng đang phun nước trên sân khấu rối nước. Chú rồng – sinh vật duy nhất không có thực trong 12 con giáp. Lựa chọn tưởng chừng ngẫu nhiên, nhưng có vẻ lại rất hợp lý, vì rồng có vị trí đặc biệt trong văn hóa, tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam, và từng là biểu tượng linh thiêng nhất trong truyền thuyết “con rồng, cháu tiên”. Một sự đề cao, trân trọng khéo léo những nét đẹp truyền thống của người Việt – ngay từ khởi đầu phim. Sau đó là hình ảnh những con rối mang nét đẹp nhuần nhị của người Á đông, rất thân thiện, mến khách. Một sự khởi đầu dịu nhẹ mà hấp dẫn với người xem đang tò mò về một nền văn hóa. Và có lẽ quan trọng hơn, người ta tò mò xem nền văn hóa ấy có chút nào bị phôi pha, vùi dập dưới làn mưa bom bão đạn năm xưa…

          Đạo diễn không vào phim ngay, mà lựa chọn những hình ảnh ấn tượng trong phim được chắt lọc để “khoe” khéo, trong tiếng sáo réo rắt. Không gian như được rộng mở ngay từ đầu, dẫn ta tới những triền đê của tiếng sáo diều… Những nét mặt người rất tập trung, dường như không để tâm đến sự có mặt của ống kính. Người quay phim như đã trở thành một phần của tập thể, không gây chú ý, không gây xao nhãng hay bất kỳ điều gì ngại ngùng cho nhân vật. Họ thể hiện rất tự nhiên, dân dã, hồn nhiên như con trẻ trước ống kính.

          Và thậm chí, phỏng vấn được đưa vào ngay cả khi tên phim vẫn chưa chạy. Đúng là phim tài liệu là “sự thể nghiệm về nghệ thuật” – những quy tắc truyền thống liên tục bị phá vỡ, miễn là cái sáng tạo của người đạo diễn thu hút khán giả. Nét cười tự nhiên, câu đùa dí dỏm và đôi tay như múa của người đạo diễn gạo cội – NSND Doãn Hoàng Giang đã mở đầu phim và chạy vào tên phim một cách sảng khoái, để lại ấn tượng ban đầu mới, lạ về bộ phim…

          Hai cái tên “Giấc mơ Hà Nội” và “Giấc mộng đêm hè” dường như có sự tương đồng rất lớn. Trước hết là ở sự đồng điệu “giấc mơ”, giấc mộng”. Phải chăng, một vở kịch/một sự kiện/một sự kết nối, hòa hợp giữa hai dân tộc đã từng đối địch nhau trên chiến trường, từng là một giấc mộng, một giấc mơ không có thực, mà qua bộ phim này, nó đã trở thành sự thực.

            SỰ KỲ CÔNG CỦA NHỮNG NGƯỜI TÂM HUYẾT

          Tôi coi bộ phim này là một dạng phim mô tả hậu trường. Hậu trường của một vở hài kịch đã quá nổi tiếng trên toàn thế giới, về yêu đương, thù hận, có nhiều xung đột nghẹt thở, nhưng cũng có những chi tiết thắt nút hấp dẫn, và kết thúc có hậu. Giá mà người làm hậu kỳ các chương trình/sản phẩm truyền hình, nghệ thuật nào cũng có tâm huyết như êkip này, thì có lẽ khán giả sẽ thêm yêu, thêm hiểu, thêm cảm thông với công việc của những người làm truyền hình, phim ảnh, nghệ thuật chúng ta… Có thể nói, ekip làm phim đồng hành với các đạo diễn, nghệ sĩ nhà hát xuyên suốt quá trình lên ý tưởng, bàn bạc, xây dựng, dàn dựng và tập luyện đến khi vở kịch hoàn thành đêm công diễn đầu tiên thành công rực rỡ. Họ có trong tay một gia tài khổng lồ, nhưng ban đầu hẳn cũng quá bề bộn, 3.000 phút quay. Vì thế, 141 phút lên phim quả thực là sự sắp đặt quá đỗi tài tình, khéo léo và đầy chủ ý, có tính toán và kế hoạch từ đầu của nhóm làm phim.

          Người đạo diễn đã khéo, nhưng người quay phim thể hiện sự hứng thú với đề tài này và khéo đoán biết diễn biến nội tâm cũng như đặc điểm riêng về cơ thể/tính cách/cá tính và biểu hiện thú vị của từng nhân vật. Cô diễn viên người nước ngoài là người cá tính, mạnh mẽ, yêu đương cuồng nhiệt và yêu đến cùng. Anh diễn viên Mỹ là người rất hóm hỉnh và thu hút, luôn đầy câu hỏi và những hoài nghi, thắc mắc. Hai diễn viên người Việt thì có sự trưởng thành rõ rệt và sự phát triển của cảm xúc, sự mạnh dạn, táo bạo xuyên suốt thời gian tập luyện cùng bạn quốc tế. Có cảm giác như mọi diễn biến quan trọng nhất, có nút thắt mở nhất và thể hiện cảm xúc, suy nghĩ, trăn trở, suy tư của nhân vật nhiều nhất trong quá trình tập luyện đều có sự quan sát, đồng hành, ghi hình của ekip, trong ròng rã nhiều tuần trời. Việc đeo bám này, rõ ràng phải gây sự mỏi mệt, nhưng khi coi mình là người trong cuộc, vui buồn cùng, lo lắng trăn trở cùng nhân vật, thì mới có được sự kiên trì, bền bỉ và tìm ra những điều mới mẻ trong những hoạt động tập luyện lặp đi lặp lại như vậy.

                    Bộ phim tưởng chừng như gặp gì ghi nấy, không có những trường đoạn và ý tưởng rõ ràng, nhưng thực ra rất có ý đồ. Đạo diễn đã thể hiện những trường đoạn lớn theo tứ GẶP GỠ (TÌM HIỂU NHAU) – CÙNG HỢP TÁC, CÙNG LÊN Ý TƯỞNG, CÙNG TẬP LUYỆN – DÙNG NHIỀU BIỆN PHÁP ĐỂ TÌM TIẾNG NÓI CHUNG TRONG NGHỆ THUẬT – GẶP NHỮNG THỬ THÁCH (KHÁC BIỆT VĂN HÓA, NGÔN NGỮ, CƠ CHẾ, ĐỊA ĐIỂM, VÉ..) – GIẬN DỮ, THẢO LUẬN TO TIẾNG, HOÀI NGHI, LO LẮNG – CÙNG TÌM HƯỚNG GIẢI QUYẾT VÀ XỐC LẠI TINH THẦN – ĐÊM CÔNG DIỄN THÀNH CÔNG TRONG NIỀM VUI VỠ ÒA…

          Bộ phim lựa chọn nhiều nhân vật cùng kể chuyện và thể hiện cá tính, nhưng nét riêng của mỗi người rất dễ dàng nhận ra, và họ đều thể hiện sự khôn lớn về cảm xúc, hiểu biết về nền văn hóa bạn, vượt qua những rào cản của chính mình và xã hội mình. Chính họ, chứ không ai khác, là đại diện của một nền văn hóa/một dân tộc đang nỗ lực để hiểu về một dân tộc khác.

            CÂU CHUYỆN HÌNH ẢNH ẤN TƯỢNG

          Nếu như phim tài liệu được coi là sự sáng tạo giữa sự thật, thì hình ảnh nam diễn viên Doug Miller náo nức thăm phố phường Hà Nội lần đầu tiên khiến tôi rất nhớ. Anh có bộ phục trông cũng rất xuề xòe, giản dị, như hòa mình cùng người dân Hà Nội những năm ấy. Dáng anh ngồi xếp bằng tròn trên ghế đã giữa hồ Gươm dường như có gì cũng rất nông dân, chân chất. Và cảnh anh đứng lơ ngơ giữa dòng người trên phố, thấy gì cũng mới lạ, có vẻ ngó nghiêng, tò mò, cũng rất dễ thương. Cảnh sắp đặt theo ý đồ của đạo diễn, nhưng chấp nhận được và cũng gợi sự tò mò cho chính người xem quốc tế.

          Sự nỗ lực để có một nụ hôn đúng nghĩa và tự nhiên, chân thật của nữ diễn viên Ngân Hoa và nam diễn viên Miller cũng rất thú vị. Một nụ hôn nhưng thể hiện những nỗ lực của cả một nền văn hóa để tìm cách xóa bỏ những khoảng cách và rào cản. Các diễn viên cứ hiểu nhau và cởi mở dần. Họ dần tìm được tiếng nói và giải pháp chung, mặc dù không ít khi xung đột tưởng như không thể hóa giải. Nụ hôn và những cái ôm cống hiến cho nghệ thuật đã dần tự nhiên, gần gũi hơn, tạo cảm xúc mạnh hơn cho người xem và tiếp thêm lửa cho chính người diễn. Nữ diễn viên Ngân Hoa là nữ nhân vật thể hiện rõ nhất sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam ở thời của cô, mẫu phụ nữ yêu đời, tự tin, chủ động, dám sống hết mình vì đam mê, dám khóc, dám cười, dám sống thật với cảm xúc. Một mẫu hình phụ nữ độc lập của thời đại hòa bình, phát triển.

          Và Đỗ Kỷ cũng vậy, từ người đàn ông run rẩy vì những biểu hiện mạnh và tự nhiên của nữ diễn viên Mỹ, anh cũng dần mạnh dạn, tự nhiên hơn, thể hiện nét tính cách quyết liệt và sống chết vì tình yêu của nhân vật mình thể hiện.

          Ở trường đoạn khi dàn đạo diễn, diễn viên hai nước nghe tin tổng thống Mỹ Bill Clinton sẽ sang thăm Việt Nam một ngày rất gần và có thể sẽ tham dự đêm công diễn đầu tiên của vở hài kịch. Thông tin mới mẻ này như một làn gió mát lành thổi ùa vào cho dàn diễn viên đã vất vả nhiều tuần qua. Ở đây có một hình ảnh ấn tượng mà tôi rất nhớ, đó là những cánh cổng, cánh cửa ở Nhà hát Lớn Hà Nội hé mở rất đều đặn, như một sự mở lòng, thể hiện tâm trạng hồi hộp chờ đợi của cả dàn nghệ sĩ cả hai quốc gia trước sự có mặt của một tổng thống của quốc gia đứng trong tốp đầu thế giới. Sự có mặt của ông sẽ là một lời giải, một cái kết có hậu nhất thể hiện sự hòa hợp của hai nền văn hóa. Tất nhiên, sau này tổng thống vì những lịch trình dày đặc đã không xuất hiện, nhưng chi tiết này đã thể hiện sớm sự quan tâm của truyền thông, của các lãnh đạo và của công chúng đối với vở kịch này.

          Bộ phim thú vị ngay cả ở phần chạy chữ cuối. Những hình ảnh hậu trường này dường như chúng ta ít sử dụng trong một bộ phim chính thống, mà chỉ thường sử dụng ở những phim/video clip lưu hành nội bộ trong một nhóm người/một tổ chức/thậm chí một lớp học như lớp chúng ta. Như hình ảnh các nhân vật hát karaoke để tạm biệt nhau, và chia tay ở sân bay hẹn ngày gặp lại. Những nụ cười và sự giải thoát cơ thể để có một bữa tiệc karaoke tự nhiên, những người nổi tiếng thể hiện cá tính và hình ảnh đời thường của mình khá dễ thương. Và những cái ôm siết và giọt nước mắt thánh thót rơi ở sân bay, khiến câu chuyện càng thêm kết thúc có hậu – một sự hòa hợp và đồng cảm sâu đậm giữa hai dân tộc, hai nền văn hóa đã có được sau 7 tuần cùng nhau phấn đấu, nỗ lực vì một cái đích chung.

          Vẫn là dùng hình ảnh thú vị đến tận phút cuối để chạy chữ tên những người thực hiện, nhưng vẫn rất thu hút người xem. Hay phải chăng còn vì các nhân vật trong phim đều là những người nổi tiếng, nên người xem có phần tò mò về hình ảnh phía sau sân khấu lung linh của họ là gì? Dù sao, đây cũng là một gợi ý khá hay cho chúng tôi về một cách kết phim hấp dẫn đến những giây cuối cùng.

                   NÉT TỰ NHIÊN CỦA CÁC PHỎNG VẤN

          Các phỏng vấn được ghi hình xuyên suốt quá trình diễn biến của việc tập luyện vở kịch. Bất cứ không gian nào, đôi khi hơi bề bộn nhưng đó là sự thật chấp nhận được, khiến nhân vật có thể trải lòng mình một cách thoải mái. Không hề có sự xuất hiện của micro hay bất cứ logo mic nào theo cách truyền thống nhà báo Việt Nam đến nay vẫn làm. Ngay cả ở những không gian chúng ta không nghĩ đến nhất, ví dụ như phòng ở, trên giường ngủ, với động tác khoanh chân gọn gàng trên giường (với nữ diễn viên Kristen Brown), gợi mở về một cách nhìn mới của phỏng vấn nhân vật. Nhờ ghi hình xuyên suốt quá trình tập kịch, nên không gian phỏng vấn cực kỳ phong phú, dường như ở bất cứ đâu. Các nhân vật nước ngoài thường xuyên được sử dụng cảnh phỏng vấn cận hoặc đặc tả, vì họ có biểu hiện tự nhiên rất sinh động, biết pha trò, hoặc không ngại thể hiện ra mặt các suy nghĩ, trăn trở. Còn các đạo diễn, diễn viên Việt Nam được chọn cỡ cảnh phỏng vấn  rộng hơn, thể hiện một sự dè dặt, an toàn hơn.

          Nhưng có một số trường hợp, góc máy phỏng vấn bắt rộng tạo hiệu ứng đặc biệt, như ở các phỏng vấn đạo diễn Doãn Hoàng Giang. Ánh sáng hắt đơn giản, góc máy rộng và không vướng bận mic khiến ông sử dụng ngôn ngữ cơ thể một cách thoải mái, mang tính giải phóng và rất ấn tượng. Gương mặt cũng góc cạnh rất nghệ sĩ, giấu được các nhược điểm của gương mặt/cơ thể.

          Ông Châu, giám đốc Nhà hát kịch, ban đầu thể hiện nét tròn trịa trong cả khuôn mặt lẫn tính cách, nhưng càng sau càng thú vị, càng góc cạnh, cá tính mạnh hơn. Ông cùng với đạo diễn Doãn Hoàng Giang chính là người truyền lửa cho các diễn viên Việt Nam ở những phút mà họ cảm thấy chán nản, mệt mỏi nhất vì việc tập luyện kéo dài với áp lực cao và thời gian biểu “chưa thật phù hợp” với phong cách Việt Nam. Bởi lẽ, khi cần, vì lợi ích, tự tôn dân tộc, họ “sẵn sàng làm việc đến chết”….
          Và như thầy giáo và các bạn học ở lớp đã phát hiện một cỡ cảnh phỏng vấn mang tính “dụng ý” của tác giả người Mỹ. Đó là cảnh phỏng vấn bà đại diện kinh doanh của nhà hát. Một góc cảnh rộng ruễnh roãng, nhiều chi tiết thừa, trang phục họa tiết dường như không phù hợp và lại tiệp màu với màn rèm phía sau. Quả thực, mấy lần nghe các phỏng vấn bà này được cắt nhỏ đưa vào các đoạn giải quyết câu chuyện bán vé, tôi luôn có cảm giác tác giả muốn tạo cảm giác nhân vật này dường như đứng ngoài cuộc, giống một “bà hoàng” ngồi xa và nghe lại, không đau đáu nỗi đau và nỗi trăn trở của người nghệ sĩ. Đây vẫn là một dấu hỏi rất lớn với tôi!

          Nhưng theo dõi những phỏng vấn, tôi rút ra kinh nghiệm, sự có mặt của những chiếc micro to lớn và có logo sáng bóng hoặc sắc nét của một kênh đài nào đó, đôi khi sẽ là rào cản và kẻ phá đám để chúng ta có những phỏng vấn hay và tự nhiên. Và bối cảnh sắp xếp quá gọn gàng và sạch nước cản, đôi khi sẽ khiến mọi thứ giả tạo và khiến tự dưng nhân vật phải gồng mình lên và giấu đi cá tính của họ. Nhiều khi có thể hơi bừa bộn một chút (ở giới hạn chấp nhận được) để nhân vật được đúng là mình, đúng hơi thở đời sống, để “đời” hơn…

          Và lại một câu hỏi đặt ra, phim tài liệu có nhất thiết cần phải có ý kiến phỏng vấn lãnh đạo cho “sang” hay không? Câu trả lời là có, vì đôi khi, như thầy Vũ Quang nói, sự xuất hiện của nhà báo Xuân Ba – Báo Tiền phong trên sóng đã là một sự khẳng định, chưa cần biết ông nói gì. Chỉ cần hình ảnh đó đã thuyết phục công chúng. Ở đây có một quan chức cỡ vừa xuất hiện, đạo diễn phỏng vấn bà mặc đồ tweet bên lề sân khấu vở kịch, ngay ở hành lang (nơi phía sau là cánh cửa vẫn còn đang mở). Bà xuất hiện với không gian, vai trò là một khán giả thực sự nhìn nhận về sự vật/sự việc chứ không phải là một quan chức ngồi phòng lạnh và phán bừa về những thứ ở xa mình.

            ĐÂU LÀ TƯ DUY CHUYỂN CẢNH HIỆN ĐẠI

          Trong quá trình tác nghiệp, kể cả với thời sự, tôi luôn băn khoăn về những cảnh chuyển sao cho ngọt ngào, khéo léo và có ý đồ. Một kiến thức tôi học được là tìm những thứ tương đồng để chuyển cảnh khiến cho người xem không giật mình và cảm thấy hợp lý. Hoặc có thể tìm những hình ảnh có liên quan đến nhau để chuyển cảnh.

          Trong khi đưa tin tức, hình ảnh quân sự quốc phòng, có nhiều trường hợp chúng ta rất bí về cảnh chuyển. Trước đây, thường những hình ảnh cận cảnh sẽ được lựa chọn và chuẩn bị cho cảnh chuyển. Tuy nhiên, do đặc thù bí mật quân sự, nhiều trường hợp không được ghi cảnh cận hoặc đặc tả (trang sổ bộ đội đang viết, cận cảnh mặt máy móc…). Trong những không gian chật hẹp, hạn chế này đã khiến người quay và người dựng đều rất đau đầu về hình ảnh. Trong bộ phim, sự chuyển cảnh ngọt ngào và khéo léo chưa rõ rệt, nhưng có rất nhiều cảnh cận và đặc tả thú vị cũng cho tôi thêm một số gợi ý về cảnh chuyển một cách mới lạ mà không lộ/lọt bí mật. Hy vọng thời gian tới, khi chú tâm và dành thời gian xem thêm nhiều phim tài liệu mới theo phong cách hiện đại của cả trong nước và quốc tế, tôi sẽ có thêm nhiều gợi ý và suy tưởng hay, thú vị, thu hút trong các cảnh chuyển. Việc phải sử dụng thao tác chồng mờ hay xuống đen để chuyển cảnh, hy vọng sẽ ngày càng hạn chế…

                     KẾT MỞ

          Cuối cùng, rất cảm ơn thầy Vũ Quang và Xuân Quang dường như đã là một cặp đôi hoàn hảo khi cùng đứng lớp ở khóa học này. Sự khác biệt giữa người giảng chính/ phụ giảng hầu như không rõ rệt. Vì một người đã quá dày dạn kinh nghiệm với các đề tài/phim tài liệu/tầng sâu văn hóa Việt qua hàng chục năm đau đáu làm nghề. Còn một người đã quá kinh nghiệm với phong cách làm phim quốc tế và hơi thở đương đại như một phần máu thịt. Những chia sẻ nối tiếp nhau, bổ sung, làm đầy cho nhau của hai thầy rất hợp lý và khiến cho người học rất thích thú.

          Kết thúc khóa học này, ai trở về với công việc của mình, cuộc sống của mình, và dù có làm phim tài liệu hay không, thì cũng đã có những kiến thức/kỹ năng/kỹ xảo mới để làm bất cứ tác phẩm truyền hình thuộc thể tài nào cũng đều tốt hơn. Những kiến thức về cách tìm hiểu và đi sâu vào đề tài, tìm nhân vật xuyên suốt thật hay với câu chuyện và cách kể đều đặc biệt, cách đặt câu hỏi phỏng vấn đúng, trúng, thậm chí khiêu khích, sốc để đạt mục tiêu thông tin, cách giao tiếp bằng mắt và tạo sự tin cậy cho người đối thoại, cách tư duy hình ảnh và “làm hình” tại hiện trường, cách phát hiện những chi tiết đắt… Tất cả đều sẽ được chúng tôi vận dụng không thừa, không thiếu vào các tác phẩm của mình, dù nó là 1,5; 2,5 hay 28, 30 phút…

 

Học viên: Diệu Ngân

 

 

 

Thư viện