Nhà báo Dương Tuấn Linh: Tôi bị hút vào diễn biến của phim ” Giấc mơ Hà Nội” | Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ truyền hình

slideslideslide

categoryChia sẻ

Nhà báo Dương Tuấn Linh: Tôi bị hút vào diễn biến của phim ” Giấc mơ Hà Nội”

Nhà báo Vũ Quang: Bài bình luận về bộ phim ” Giấc mơ Hà Nội” của nhà báo Dương tuấn Linh là một góc nhìn phản biện khá độc đáo về nghề nghiệp, về phim tài liệu. Bài viết thể hiện lòng yêu nghề, thái độ khách quan trước một bộ phim tài liệu. Xin trân trọng giới thiệu bài viết với bạn đọc của daotao.vtv.vn

Tác giả Dương Khắc Linh thứ hai từ bên phải ảnh sang

Tác giả Dương Khắc Linh thứ hai từ bên phải ảnh sang

Với 100 phút, “Giấc mơ Hà Nội” là một bộ phim có thời lượng vượt khung phát sóng của các chương trình tài liệu thường phát trên truyền hình Việt Nam. Còn phim tài liệu, với khán giả Việt Nam luôn là thể loại ít hấp dẫn nhất. Tuy nhiên, theo quan sát của cá nhân tôi, thời lượng dài và thể loại kén khán giả hầu như không làm người xem nản lòng khi theo dõi “Giấc mơ Hà Nội”. Tôi đã xem bộ phim này 3 lần, một lần tại lớp học làm phim tài liệu, một lần với các đồng nghiệp cùng cơ quan và một lần với gia đình. Đa số người xem đều bị hút vào diễn biến của phim, một cách tự nhiên.

Với mỗi người sẽ có một cách lý giải khác nhau cho sức hấp dẫn của phim. Riêng  với tôi, từ góc độ của người xem, điểm thú vị đầu tiên của bộ phim là đã đưa mình về một Hà Nội cách nay gần 20 năm, một khoảng thời gian không quá dài cũng không quá ngắn nhưng cũng đủ để diễn ra những thay đổi đáng kể, đủ để những hình ảnh thân quen biến mất khỏi tâm trí, từ bao giờ không hay.

Dòng xe máy di chuyển trên các con phố mà không mấy ai đội mũ bảo hiểm. Dãy phố Hai Bà Trưng đầy ắp những tivi màn hình cong trong các thùng giấy lập phương, nay được thay thế bằng các loại màn hình phẳnghoặc lõm, nhiều inch hơn nhưng mỏng hơn…Và đặc biệt là các gương mặt nghệ sĩ của Nhà hát kịch Việt Nam, Ngân Hoa, Đỗ Kỷ, Anh Dũng,… cùng nhiều người nữa, không nhớ tên nhưng đã rất quen thuộc trên sóng truyền hình một thời.Đã lâu lắm rồi, không thấy họ nữa. Với vở kịch “Giấc mộng đêm hè”, tôi chưa xem lần nào và cũng không phải người quá quan tâm tới các hoạt động văn hóa nhưng chắc chắn đã nghe tới cái tên này, có lẽ bởi tầm vóc của sự kiện cùng với nỗ lực quảng bá của ban tổ chức.

Trở lại với “Giấc mơ Hà Nội”, tác giả đã kể một câu chuyện mới lạ về hậu trường của một sự kiện văn hóa đình đám diễn ra cách nay gần 2 thập kỷ. Chí ít đã có gần 1 vạn người trực tiếp tới nhà hát để xem “Giấc mộng đêm hè”, một vở kịch được trình bày song ngữ với sự tham gia của các diễn viên Việt Nam và Hoa Kỳ,thế nhưngcó lẽ không nhiều người biết rằng, để có sự thành công của vở diễn đó, các nghệ sĩ đến từ 2 quốc gia đã phải trải qua những gì?

***

Tôi thường biết đến chuyện “behind the scene”của các hoạt động nghệ thuật qua những bản tin văn hóa còn đây là lần đầu tiên thấy chủ đề này được dựng thành một bộ phim tài liệu, không những là thể loại đỉnh cao của truyền hình mà còn dài hàng trăm phút. Sự xa xỉ này là xứng đáng. Khán giả tới nhà hát và thấy được những gì diễn ra trên sâu khấu. Báo chí thì được người trong cuộc chia sẻ những lời có cánh giành cho đối tác nhưng thực sự, điều đó chỉ diễn rasau khi những mâu thuẫn đã được đẩy tới những giới hạn cuối cùng.“Có cần phải tiếp tục cái công việc hồi hộp này không?”,đã có lúc bà Lorrel Browning, tác giả kịch bản đồng thời là nhà sản xuất phía Mỹ, đã phải thốt lên như vậy. Và khi còn cách ngày công diễn 1 tuần, bà đã nói với các đồng nghiệp người Mỹ rằng: “Có lẽ, chúng ta phải về nước thôi”… Còn ông Đỗ Doãn Châu, giám đốc Nhà hát kịch Việt Nam từng nói thẳng với đối tác phía Mỹ không qua phiên dịch rằng: “I don’t want to work”. Thậm chí ông còn suýt văng tục trong một cuộc tranh luận nảy lửa bàn về thời lượng của vở kịch.

Trong một nhiệm vụ văn hóa – chính trị đòi hỏi có sự hợp tác từ cả 2 phía Việt Nam – Hoa Kỳ, từ người đưa ra ý tưởng tới những người thực hiện chắc hẳn đều đã ý thức về những rào cản sẽ chờ đón họ ở phía trước. Những rào cản ấy đã “mọc” lên đúng với “quy hoạch”, tức là nằm trong dự liệu, nhưng cũng có những rào cản dựng lên một cách bất thình lình, chen vào mọi giai đoạn công việc, mọi mối quan hệ, ở mọi cấp độ.

Người Mỹ có thể hình dung về sự khó khăn trong giao tiếp vì bất đồng ngôn ngữ, về giới hạn của sự tiếp xúc cơ thể trên sân khấu chỉ được phép ở mức “kỹ thuật biểu diễn”, về sự phức tạp của một vở diễn có tới 2 đạo diễn mà mỗi người lại đến từ một nền văn hóa cách biệt… Nhưng đó chưa là gì khi so với những khó khăn nằm ngoài trí tưởng tượng của họ, trên thực tế cứ xuất hiện ngày một nhiều thêm: Nhân vật nữ thì không được “giãy đành đạch” khi tình yêu bị từ chối;Vở kịch của Shakespearecó thêm 6 “chú tễu” chỉ để pha trò, dọn cảnh và giả làm cây cối trong rừng;Lời thoại đã bị cắt tới 20% nhưng còn phải cắt nữa; Địa điểm biểu diễn buộc phải thay đổi trước ngày công diễn;Buổi tổng duyệt thì không được phép bán vé…

Có mặt ngay từ những buổi đầu khi đoàn Mỹ đặt chân xuống sân bay Nội Bài, ê-kíp của đạo diễn Tom Weidlinger có lẽ đã không bỏ sót một diễn biến quan trọng nào của dự án nghệ thuật có “1 – 0 – 2” này và họ đã khéo léo kể về sự hợp tác bằng chính những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình hợp tác.

Các mâu thuẫn được chọn lọc, sắp đặt theo trình tự tăng dần, bắt đầu bằng sự lúng túng trong giao tiếp hay khi diễn viên không biết nên hôn nhau như thế nào trên sân khấu, cho tới lúc tác giả kịch bản không còn kiểm soát bản thân vì kịch bản bị sửa quá nhiều,và đặc biệt khi sự sống còn của chương trình hợp tác bị đe dọa.

Đan xen giữa những đoạn thắt nút, đẩy kịch tính lên cao trào là những đoạn cởi nút, làm dịu xung đột, đôi khi một cách trực tiếp như hình ảnh đạo diễn Doãn Hoàng Giangnắm tay trấn tĩnh bà Lorrel trong cuộc đấu khẩu giữa bà với ông Đỗ Doãn Châu, hoặc câu chuyện được lái hẳn sang một diễn biến mới như ý kiến của các diễn viên chê phục trang “quê mùa”, rồi lúc cả đoàn kịch sang được đưa tới một không gian mới trong chuyến dã ngoại thăm chùa Thầy.

Có lẽ bản thân cuộc giao lưu văn hóa Đông – Tây đã tiềm ẩn những va chạm, những cung bậc cảm xúc, đủ chất liệu hấp dẫn cho một kịch bản đầy kịch tính nhưng đôi chỗ, các nhà làm phim cũng đã phải tác động thêm vào, như đoạn phỏng vấn  đạo diễn Doãn Hoàng Giang và nghệ sĩ Quang Thái nói về sự tàn khốc của chiến tranh hay nhận xét của các diễn viên Dough Miller, đạo diễn Allan Nause về tình trạng giao thông “như những dòng sông” ở Việt Nam.Những nội dung này không liên quan quá nhiều tới diễn biến của dự án hợp tác nhưng rõ ràng, sự cài cắm có chủ đích ấy đã giúp điều tiết cảm xúc trong mạch phim một cách hiệu quả. Khi mâu thuẫn chưa xuất hiện nhiều thì những kỷ niệm buồn về chiến tranh khiến tâm trạng người xem lắng xuống và đồng thời giải quyết được nhiệm vụ truyền tải thông điệp “khép lại quá khứ, hướng tưới tương lai”, trực tiếp trong phim là “cái gì đã đi qua để cho nó đi qua” (đạo diễn Hoàng Giang)và “chúng ta hãy sống như những người tử tế với nhau” (nghệ sĩ Quang Thái).

Cũng cần nhìn sự sắp đặt trong bối cảnh, những đoạn hội thoại mà chúng ta được nghe, những khung hình mà chúng ta được xem chỉ chiếm 1/3.000 thời lượng tư liệu mà những gì mà đạo diễn Tom Weidlinger và các cộng sự thu đượctrong chuyến đi. Không khó để bất cứ ai đã làm phim tài liệu nhận thấy sự khó khăn của các đồng nghiệp khi phải loay hoay chọn lọc và quyết định dùng đoạn hình nào lấy từ kho tư liệu đồ sộ đó.Vậy mà, tiến trình của những mâu thuẫn – hóa giải được đặt trong tiến trình của cuộc giao lưu nghệ thuật kéo dài 3 tháng, đồng hiện với tiến trìnhvở diễn kéo dài 2 tiếng rưỡi, tất cả đều diễn ra suôn sẻ, hợp lý.Đó là những cách xử lý đáng học hỏi trong bộ phim này.

***

Cách xử lý âm thanh trong phim cũng đáng tham khảo. Chịu khó quan sát một chút, ta có thể nhận ra sự chăm chút của đạo diễn. Hầu hết các phỏng vấn đều được ghi âm qua mic cài áo, kể cả khi nhân vật di chuyển ngoài hiện trường, ngồi trên xe ôm, tới nơi tiếp thị hay đi khảo sát địa điểm biểu diễn. Phần nhạc cũng khá thú vị, nhất là trong đoạn phim ghi hình Cung Văn hóa Hữu nghị Việt – Xô, đạo diễn đã có lựa chọn phù hợp khi dùng bản Quốc tế ca tiếng Nga, vâng hẳn là tiếng Nga.

Không rõ, có phải chủ ý của đạo diễn hay không nhưng khi bà giám đốc tiếp thị của dự án Cendrille Des Vis đi sâu vào bên trong Cung Việt – Xô thì nổi lên bản nhạc Polyushko Polye (Cánh đồng yêu thương) với tiếng gõ nhịp tựa vó ngựa phi,không chỉ đậm chất Nga mà còn truyền tải được cảm giác mênh mông của lãnh thổ nước Nga cũng như địa điểm biểu diễn có tới 1.200 chỗ ngồi… và “riêng sân khấu đã rộng bằng Nhà hát kịch Việt Nam”.Mang lại cảm giác ấy có lẽ chỉ có “Quốc ca Liên Xô” và“Địa chỉ chúng tôi – Liên bang Xô-viết” mới truyền tải được nhưng rõ ràng, 2 bài hát này không phù hợp về nội dung.

Một đoạn nhạc khác được sử dụng phù hợp là bài “Đừng đi qua lối đó”, dùng cho đoạn nói về nhịp sống sôi động của Việt Nam khi đang bắt nhịp sâu vào kinh tế thị trường. Có lẽ, nhà làm phim đã nghe nó trên chương trình Làn sóng xanh, một chương trình âm nhạc rất thịnh hành đầu những năm 2000, chuyên phát các bài hát nhạc trẻ sôi động. Đó không chỉ là giai điệu, đó là sự phản ánh hơi thở cuộc sống.

Tuy nhiên, ở những đoạn khác, có một lựa chọn củaTom Weidlinger mà cá nhân tôi đánh giá là không hợp lý. Đó là lúc nhắc tới cuộc chiến tranh trong lịch sử, khi trong hình là cú máy zoom vào cánh cửa chùa thì nổi lên âm thanh nền là tiếng trực thăng, gợi nhắc không khí chiến tranh. Có thể, với người Mỹ nhắc tới chiến tranh Việt Nam là nhắc tới hình ảnh của những đàn trực thăng quần thảo các cánh đồng, rừng núi ở Nam Việt Nam. Hình ảnh ấy chẳng phải ám ảnh người phương Tây đến mức, Marc Lavoine khi viết lời cho bài “Hello Vietnam” cũng đã đưa vào. (“All I know of you is all the sights of war. A film by Coppola, the helicopter’s roar”). Tuy nhiên, câu chuyện sau đó là kỷ niệm buồn về những thương vong  trong các vụ ném bom rải thảm. Có lẽ, sẽ gợi cảm xúc nhiều hơn, liên kết mạnh hơn nếu đó là tiếng ù ù của động cơ B-52 ở trên cao 10km và tiếng xé gió và phát nổ của những quả bom.

Ngoài ra, cũng “mắc lỗi” giống với nhiều nhà làm phim Mỹ khác, chọn bừa một giai điệu nào đấy nghe có vẻ truyền thống, nghe có vẻ Việt nam cho những đoạn hình về đất nước, con người Việt Nam.Bởi vậy chúng ta đã nghe những bản hòa tấu bằng sáo Mèo, đàn T’rưng, đàn Klông-pút ở những khuôn hình toàn là hình ảnh của đồng bằng Bắc Bộ. Có lẽ, đạo diễn Mỹ đã ra Hàng Bài mua lấy một băng cát-xét hay đĩa CD hòa tấu nhạc cụ dân tộc nào đó và dùng nó trong phim. May mắn vớt vát là đoạn hình ở chùa Thầy, nhạc nền là bản “Bèo dạt mây trôi” không bị quá lệch tông so như những đoạn hình khác.

Như đã nói, “lỗi” này cũng khá phổ biến. Đạo diễn Peter Davis đã mở đầu phim Heart and Mind (1974) bằng một đoạn nhạc trích trong bài “Quảng Bình quê ta ơi” cho một cảnh làng quê ở Nam Việt Nam, trong hình còn có một anh lính Sài Gòn đi tuần tra trên đường đất. Gọi là “lỗi” thì hơi quá nhưng nếu các đạo diễn nước ngoài nhận được sự tư vấn kỹ càng hơn thì tác phẩm của họ sẽ không chỉ thuyết phục mà chắc chắn chinh phục được khán giả.

***

Từ góc độ của người làm phim tài liệu, tôi vừa có sự ngưỡng mộ vừa có sự ghen tị đầy thiên kiến giành cho các đồng nghiệp Mỹ. Họ có thời gian dài tới 3 tháng để làm tiền kỳ, và sau đó gần 2 năm để hoàn thành bộ phim, một điều kiện tác nghiệp vô cùng xa xỉ.Họ đã may mắn được “chỉ định thầu” trong một sự kiện mà chắc chắn sẽ có những chất liệu tuyệt vời cho một tác phẩm để đời. Trong cuộc tiếp xúc giữa phương Đông và phương Tây, khi các thái cực trái ngược đặt cạnh nhau kiểu gì các mâu thuẫn cũng sẽ được bộc lộ.Nhất là khi nhân vật của họ là các nghệ sĩ, là những cái tôi mạnh mẽ sẽ luôn tiềm ẩn chất xúc tác cho các cuộc xung đột.

Không chỉ vậy, họ có xuất phát điểm tương đồng với nhân vật của mình (các nghệ sĩ Mỹ), cùng với nhân vật chung hành trình trải nghiệm về sự giao thoa văn hóa. Bản thân họ đứng ở vị trí nhân vật chỉ khác là không xuất hiện trong phim mà thôi.

Nhưng có phải việc của họ là giăng sẵn những tấm lưới đứng đợi dưới gốc cây và chờ cho quả ngọt rụng xuống? Tôi cho rằng đánh giá chủ quan nên dừng ở đây và nhìn nhận rõ là họ đã làm tốt công việc của mình bằng một tác phẩm về sự hòa giải, đảm bảo sự cân bằng về thông tin, cảm xúc và lý trí.

Trong phim chúng ta đã chứng kiến đoạn kịch tính nhất là lúc nhà sản xuất, đạo diễn của cả hai phía bàn về việc cắt giảm thời lượng vở kịch. Bà Lorrel đã như phát điên, đập tay lên chán khi ông Châu tán thành đề nghị tiếp tục rút ngắn lời thoại của ông Giang. Ông Châu lớn tiếng phản ứng lại. Đây là lúc xung đột của lòng tự ái giữa các nhân vật bộc lộ mạnh mẽ nhất trong bộ phim. Tuy nhiên, ở diễn biến sau này còn có một cuộc va chạm diễn ra mạnh mẽ không kém, “là lần đầu tiên mà 2 phía chống lại nhau” (theo giám đốc tiếp thị Cendrille Des Vis) thế nhưng chúng ta chỉ được nghe kể lại qua đoạn phỏng vấn bà Lorrel.

Đó là khi người Mỹ ngã ngửa vì ở Việt Nam, các nhà hát không được bán vé buổi tổng duyệt, và ông Châu – qua lời kể của bà Lorrel – đã quát lên: “Các người không biết mình đang làm gì! Các người không có quyền gì ở đây! Đừng nó nói với chúng tôi phải bán vé như thế nào? Phải quảng cáo như thế nào?”. Không rõ đoàn làm phim tài liệu đã không có mặt để ghi lại nội dung này, hay cuộc to tiếng ấy không hội đủ các yếu tố hình – tiếng để đưa vào phim? Cũng có thể, tác giả thấy rằng, các cao trào đầy kịch tính đã đủ và giờ là lúc để mọi việc lắng xuống.Giờ là lúc tận hưởng những cảm xúc tươi đẹp, kết quả sau cùng của một quá trình hợp tác mà các bên đã phải nỗ lực rất nhiều để nắm tay nhau và vượt qua rào cản của sự khác biệt. Dù thực tế thế nào thì khán giả đã được dẫn dắt qua các cung bậc cảm xúc, và những ai đa cảm sẽ không tiếc những giọt nước mắt cho trường đoạn biệt ly giữa những người bạn diễn. Điều đó thật tuyệt vời!

Dương Khắc Linh

Truyền hình quốc phòng

Thư viện