“Nông dân” – Khúc tráng ca của nông dân Ba Lan (Tiểu thuyết “Nông dân” của W. Reymont do Trung tâm Văn hóa & Ngôn ngữ Đông – Tây và Nhà xuất bản Lao động phát hành tháng 11/2012, Nguyễn Văn Thái dịch) | Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ truyền hình

slideslideslide

categoryTài liệu học tập

“Nông dân” – Khúc tráng ca của nông dân Ba Lan (Tiểu thuyết “Nông dân” của W. Reymont do Trung tâm Văn hóa & Ngôn ngữ Đông – Tây và Nhà xuất bản Lao động phát hành tháng 11/2012, Nguyễn Văn Thái dịch)

Nguyễn Văn Thái

VanVN.Net – Tiểu thuyết Nông dân được Wladyslaw Reymont cho in thành sách trong những năm 1904 – 1909 và vì tác phẩm đó ông đã được trao giải thưởng Nobel trong lĩnh vực văn học năm 1924(1).

Trong nền văn học mỗi nước có những tác phẩm được gọi là anh hùng ca vì ý nghĩa của đề tài và giá trị nghệ thuật, đồng thời vì vai trò của nó đối với văn hóa dân tộc. Anh hùng ca truyền thống, cũng như anh hùng ca cổ đại phải biểu thị lịch sử các nhân vật huyền thoại trên nền tảng những sự kiện có tính bước ngoặt đối với xã hội.

Mặc dù Nông dân không có đầy đủ các tính chất của một bản anh hùng ca truyền thống, song tác phẩm kinh điển này vẫn được coi là bộ sử thi của dân tộc hay anh hùng ca của Ba Lan. Trong quyết định của Ủy ban Nobel năm 1924 có đoạn đánh giá về tác phẩm của Reymont như sau: “Đây là tiểu thuyết đặc biệt trong nền văn học thế giới những năm gần đây, là thiên anh hùng ca bằng văn xuôi đích thực…”(2).

Tác giả Wladyslaw Stanislaw Reymont sinh ngày 7 tháng 5 năm 1867 tại làng Kobiele Wielkie thuộc Piotrkow, cha là nhạc công nghiệp dư, chuyên chơi đại phong cầm ở nhà thờ, mẹ là cháu gái một cha đạo ở quê. Thời thơ ấu Reymont sống cùng gia đình ở Tuszyn – một thị trấn nhỏ cách thành phố Lódz không xa. Sau này nhà văn kể lại: “Tuổi thơ của tôi trôi qua khá buồn tẻ. Bố mẹ tôi có tới chín người con, trong đó bảy là gái. Anh trai cả vào học cấp II khi tôi chưa biết gì. Tôi sống thầm lặng giữa các chị em gái, không quan hệ với xung quanh, bởi vì gia đình tôi ở ngoài rìa thị trấn và tôi sẽ bị phạt nặng nếu chơi bời với những đứa trẻ con nhà thị dân, dù chúng ở gần. Trong nhà tôi việc thờ phụng Chúa là tập quán thiêng liêng đã ăn sâu vào tâm trí mỗi thành viên gia đình và bố tôi là người luôn duy trì kỉ luật sắt đối với con cái. Tôi sống cô đơn, không bè bạn, chỉ biết lấy sách làm nguồn vui và để nuôi óc tưởng tượng”(3)

Buồn chán, Reymont bắt đầu làm thơ, nhưng chẳng biết gửi đâu đăng, nhiều lần trốn đi đó đi đây và có lúc bỏ nhà theo một gánh hát rong, nhưng không gặt hái được kết quả như mong muốn, cuối cùng lại phải về ăn bám bố mẹ. Sau đó nhờ sự dàn xếp của bố, Reymont được nhận vào làm công nhân đường sắt, song vì yêu thích nhà hát và văn chương hơn, nhiều lần lại bỏ nhà đi viết văn, làm thơ, làm báo và thử sức với sân khấu. Đường sắt và nhà hát có thể coi là hai mặt của cuộc đời Reymont lần lượt đổi chỗ cho nhau thời trai trẻ.

Tác phẩm tiêu biểu của ông là bộ tiểu thuyết đồ sộ nhan đề Nông dân viết trong những năm 1901 – 1908, phản ánh tình trạng nông thôn và nông dân Ba Lan dưới ách thống trị của Nga hoàng thời kỳ cuối thế kỷ XIX. Bộ tiểu thuyết này gồm bốn tập là Thu, Đông, Xuân, Hạ với tư tưởng chủ đạo rất đơn giản: Những gì đang diễn ra cũng đã từng diễn ra và sẽ diễn ra mãi mãi. Hết thu đến đông, hết xuân đến hạ, cứ thế quay vòng. Mỗi mùa đều có công việc, các ngày lễ, niềm vui và nỗi buồn riêng của mình. Song ở đây ông đã vẽ ra hết sức sinh động bức tranh toàn cảnh nông thôn Ba Lan với mọi tập quán hủ tục trong cuộc sống thường ngày, được đánh giá là bộ sử thi của dân tộc Ba Lan, chỉ đứng sau tác phẩm Chàng Tadeush của Adam Mickiewicz.

Cần nhấn mạnh rằng trong thời kỳ mà tiểu thuyết ra đời, đề tài nông dân đã trở nên hết sức phổ biến trong nghệ thuật và văn học. Có thể phán đoán rằng việc Reymont đã trải qua thời thơ ấu ở nông thôn có ảnh hưởng rất lớn đến chủ đề bộ tiểu thuyết. Hơn bất kỳ nhà văn Ba Lan nào khác, trong Nông dân Reymont đã thể hiện một cách đầy đủ nhất và có tính gợi mở bức tranh về cuộc sống nông thôn. Tiểu thuyết làm cho người đọc phải kính nể vì tính xác thực, cũng như tính hiện thực của các tập quán, ứng xử và văn hóa tâm linh của những người nông dân Ba Lan ở cuối thế kỷ XIX. Đầu đề mỗi tập (Thu, Đông, Xuân, Hạ) báo hiệu về một tác phẩm gồm bốn phần được biểu thị trong chu kỳ sinh trưởng của cỏ cây, mà chu kỳ đó điều chỉnh nhịp điệu vĩnh hằng và lặp đi lặp lại của cuộc sống nông thôn. Thuận theo nhịp điệu đó cũng đã diễn ra các sự kiện tôn giáo, tập quán và công việc đồng áng. Đồng thời việc tập hợp các sự kiện vào nhịp điệu một năm theo lịch và theo nghi lễ, cũng như việc không nêu ra thời điểm lịch sử cụ thể nào trong đó hành động được diễn ra, đã giúp cho nhà văn đạt được hiệu quả tính liên tục và vượt ra ngoài khuôn khổ lịch sử của các sự kiện.

Trên những trang sách đã thể hiện một màn kịch hết sức đa dạng về các trải nghiệm của con người và cuộc sống tâm linh phong phú, có thể so sánh với những điều ghi trong Kinh Thánh hoặc trong thần thoại Hy Lạp, nó không hàm chứa bất kỳ lí tưởng có tính học thuyết cũng như tấm gương có tính giáo huấn nào. Tác giả của Nông dân không tin vào các học thuyết, có lẽ chỉ tin vào kiến thức của bản thân về cuộc sống, vào tâm lí của những nhân vật được miêu tả và ý nghĩa của cuộc sống hiện thực.

Tác phẩm này đã được chuyển thể thành phim, lần đầu vào năm 1922 và lần thứ hai năm 1973 và cho đến nay vẫn liên tục được chiếu đi chiếu lại trên các kênh truyền hình.

Wladyslaw Reymont mất tại Warszawa ngày 5 tháng 12 năm 1925, tức là chỉ một năm sau khi nhận giải Nobel văn học và thi thể của ông được chôn cất tại nghĩa trang dành cho các vĩ nhân Ba Lan, còn trái tim được lưu giữ trong nhà thờ Thánh giá ở Warszawa, bên cạnh trái tim của nhạc sĩ thiên tài Fryderyk Chopin.

Không gian của tiểu thuyết là Lipce, một ngôi làng được tác giả phác họa như bức tranh đầy màu sắc quyến rũ. Lipce trong tiểu thuyết dĩ nhiên không phải là một địa danh có thực, song đã được Reymont miêu tả như một làng quê điển hình của đất nước Ba Lan, nhỏ bé, xinh đẹp và mang trong nó đầy đủ mọi đặc tính của nông thôn thời ấy: sự cuồng tín, thói hư tật xấu, cái thiện và cái ác, lòng nhỏ nhen ích kỷ cùng cả những tấm lòng cao thượng… Trong Nông dân, Reymont ca ngợi công việc lao động hàng ngày cùng các sự kiện thiên nhiên bằng những trang viết đầy tâm huyết.

Toàn bộ tiểu thuyết dựa trên mối quan hệ của cuộc sống con người với thiên nhiên, tác giả phô bày các số phận của cộng đồng và của từng cá nhân như một phần của lịch sử nhân loại nhìn dưới góc độ lịch sử của đất đai diễn ra đúng theo ý Chúa. Câu đầu tiên của tiểu thuyết là: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời”, còn câu kết là: “Hãy ở lại cùng Chúa, những người thân yêu của tôi ạ”… Đằng sau mọi công việc, tập quán, lễ nghi là lập luận có tính tôn giáo. Song đôi lúc chúng ta có cảm giác rằng tính triết lí tôn giáo đó hướng tới những vị thần thánh thời xa xưa của đất đai, của mùa màng và sự sinh sôi nảy nở của thiên nhiên.

Ngôn ngữ trong Nông dân thấm đậm chất dân gian. Reymont không đưa nguyên xi phương ngữ của một vùng quê cụ thể nào vào tiểu thuyết, song chính ông đã sáng tạo ra trong những trang sách của mình một thứ ngôn ngữ vừa dân gian vừa đậm chất anh hùng ca mà nông dân Ba Lan sau này thường sử dụng.

Người kể chuyện trong Nông dân là người kể chuyện “làng quê” biết tường tận điều mình kể. Hệ giá trị của tác giả và những trải nghiệm của ông không khác biệt so với những quan niệm và các trải nghiệm của những con người mà ông đưa ra làm đề tài câu chuyện. Chính tác giả đã sống cuộc đời ấy, đã vui vì những thành tựu của các nhân vật của mình và buồn vì những thất bại của họ. Song tác giả không phải là thành viên của cộng đồng Lipce, người kể chuyện luôn giữ một khoảng cách nhất định so với họ. Đôi lúc ông cũng nhấn mạnh sự kì lạ của phong tục dân gian ở đây, thí dụ khi miêu tả các trang phục lễ hội hoặc các điệu nhảy trong đám cưới. Ông luôn giữ thái độ khách quan khi nêu ra những lí lẽ biện minh cho hành động của các nhân vật, thí dụ lí lẽ của Boryna và Antek khi yêu cùng một người đàn bà, lí lẽ của Hanka và của cộng đồng dân làng Lipce bất bình khi những chuẩn mực trong tục lệ bấy nay bị chà đạp…

Về bố cục, trong Nông dân không có những nhân vật được tách riêng nổi bật cũng như không có các chủ đề đặc biệt nào mà dựa vào đó câu chuyện diễn ra. Thậm chí những chủ đề được phát triển mở rộng rất công phu như mối tình của Antek và Jagna, cuộc đời của Boryna hoặc cuộc đấu tranh của Hanka nhằm giành lại tình yêu của chồng và vị thế của mình trong làng xã cũng không có gì thật khác biệt so với các tiểu thuyết khác. Những nhân vật đó không hề mất đi cá tính của mình, song chỉ là những bản sao lục cuộc sống của làng quê và của các quá trình diễn ra ở nông thôn Ba Lan. Qua những ví dụ đó Reymont chỉ ra những vấn đề liên quan đến việc thừa kế đất đai ở nông thôn, quan hệ giữa sở hữu đất đai với vị thế của người nông dân, những mâu thuẫn giữa các thế hệ trong gia đình liên quan đến phân chia ruộng đất, quan hệ hôn nhân và của hồi môn…

Chủ nghĩa tự nhiên trong Nông dân phản ánh quan niệm viết của tác giả. Reymont nhấn mạnh đến nhu cầu sinh học của các nhân vật, sự phụ thuộc của cuộc sống của họ vào thiên nhiên, thời tiết, mùa màng. Bản năng giới tính có ảnh hưởng rất lớn đến hành động của Antek, Jagna, chánh tổng và cả Maciej Boryna. Đồng thời yếu tố kinh tế cũng có tác động không kém phần quan trọng đối với hành động của nhân vật. Ông già góa vợ Boryna rõ ràng đã bị hút hồn bởi vẻ quyến rũ của cô gái trẻ đẹp nhất làng Jagna, song khi tính đến việc hôn nhân vẫn không quên của hồi môn của nàng dưới dạng những mẫu ruộng nằm kề bên trang trại của mình. Bà Dominikowa sẵn sàng gả con gái cưng của mình cho Boryna vì tờ văn tự đất, và bà đã nói thẳng ra rằng “Con người không có đất đai cũng như không có chân, chỉ bò ra ôm ấp mà chẳng đi tới đâu được”. Antek, mặc dù vẫn yêu say đắm Jagna, nhưng khi đã được thừa kế gia tài, với tham vọng muốn thừa kế cả vị thế thủ lĩnh của bố, đã sẵn sàng đồng ý đuổi cô ta ra khỏi làng theo quyết định của dân làng. Khi được hỏi ý kiến về vấn đề đó, anh ta nói: “Tôi sống trong cộng đồng, vì thế sẽ đứng về phía cộng đồng! Nếu các người muốn đuổi cô ta thì cứ việc đuổi, còn nếu các người muốn đặt cô ta lên bàn thờ thì cứ việc đặt!”.

Khi miêu tả các nhân vật, Reymont cũng tôn thờ chủ nghĩa tự nhiên, thậm chí ông không ngần ngại trước việc miêu tả tỉ mỉ đến từng chi tiết những hành động có thể gây sốc mạnh như cảnh lão Kuba lấy rìu tự chặt chân mình. Thông qua toàn bộ các chi tiết miêu tả rất chân thật đó, ông muốn chứng tỏ rằng mình luôn tôn trọng sự thật, dù sự thật đó có phũ phàng, đáng sợ. Có những nhân vật không tốt cũng không xấu, nhiều lúc đáng trách nhưng cũng có những ưu điểm đáng khen, điển hình là bà Jagustynka, Weronka, Mateusz, Tereska vợ lính, vợ chồng Koziol, Pietrek…

Độc giả Việt Nam dễ dàng tìm được nhiều điểm tương đồng trong cách sống, cách nghĩ và hành động của những người nông dân, trước hết là thái độ đối với đất đai, quan hệ làng xóm, những xung đột hàng ngày của các thế hệ, những tập quán, hủ tục, đời sống tâm linh. Quan hệ giữa bố mẹ, vợ chồng, con cái, anh em, làng xóm có khi chỉ vì đất đai, vì những quyền lợi trước mắt mà sinh ra mâu thuẫn, song khi cần thiết, đứng trước những mâu thuẫn lớn hơn – mâu thuẫn giữa bọn thống trị với nhân dân, hoặc giữa tầng lớp nông dân với đại điền chủ thì mọi người lại đoàn kết bên nhau thành một khối, sẵn sàng trợ giúp nhau trong hoạn nạn, giúp nhau canh tác cho kịp thời vụ… Ở nông thôn tình làng nghĩa xóm là một giá trị được đặc biệt đề cao. Nông dân ở mọi nơi đều gắn với đất đai, đều có cuộc sống vất vả “chân lấm tay bùn” và rất quý trọng con người, quý trọng những giá trị truyền thống của dân tộc, rất ngại phải thay đổi cuộc sống, thay đổi nơi cư trú.

Tuy là nhà văn có phong cách hiện thực, nhưng các trang viết của Reymont lại đặc biệt bay bổng, phóng khoáng, lãng mạn với thiên nhiên Ba Lan được miêu tả tinh tế, hoà quyện cùng con người – vẻ đẹp lộng lẫy sinh động, luôn mới mẻ, không gây nhàm chán. Ông đã thể hiện tình yêu sâu đậm của mình đối với quê hương, đất nước, thiên nhiên qua những trang viết tràn trề nhiệt huyết, như rút ra từ ruột gan mình, như máu ứ trong tim, tuôn ra ngòi bút, như muốn vẽ ra trước mắt độc giả bức tranh toàn cảnh về đất nước Ba Lan thân yêu của ông. Vợ nhà văn kể lại, sau khi viết xong những trang sách tả về đám cưới của hai nhân vật chính – ông Boryna và nàng Jagna, nhà văn đã suy sụp sức khỏe, ốm liệt giường vì đã trút toàn bộ sức lực và tâm trí vào việc miêu tả phong cảnh và tiệc cưới.

Những trang tả về thiên nhiên của Reymont là những bài thơ hết sức tươi mát, trữ tình và vô cùng cuốn hút. Phải có một tình yêu mãnh liệt lắm tác giả mới có thể dành rất nhiều thời gian và tâm trí để khắc họa chi tiết và đẹp đến như thế về một vùng đất vốn cũng bình thường như bao nhiêu vùng quê khác và truyền cảm được tình yêu ấy cho những thế hệ sau ông hàng thế kỷ.

————

(1) Wladyslaw Reymont: Nông dân (Nguyễn Văn Thái dịch). Nxb. Lao động – Trung tâm Văn hóa & Ngôn ngữ Đông – Tây, H., 2012; Tập I, 616 trang; Tập II, 724 trang. Các trích dẫn trong bài đều theo sách này.

(2) Dẫn theo Pawel Goźlinski Giải Nobel dành cho người Ba Lan, phần II, mục 11, Thư viện báo Gazeta Wyborcza, truy cập trên Internet.

(3) Dẫn theo Bogdan Kozak Nông dân, Thư viện báo Gazeta Wyborcza – Sách dành cho trường học, NXB Mediaprofit Sp. z o. o., Warszawa 2010, tr. 43.

VanVN.Net

Thư viện