PGS, TS Nguyễn Văn Dững: Báo chí địa phương hòa nhập bằng thế mạnh của mình | Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ truyền hình

slideslideslide

categoryGương mặt

PGS, TS Nguyễn Văn Dững: Báo chí địa phương hòa nhập bằng thế mạnh của mình

Nhà báo Vũ Quang: Nhân dịp năm mới 2018, tạp chí Nhà báo và Quê hương của hội nhà báo Quảng trị có cuộc phỏng vấn phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Văn Dững nguyên trưởng khoa báo chí – Học viện Báo chí & tuyên truyền về nghề, về công việc đào tạo báo chí của đất nước, về quê hương Quảng trị, về nước Nga. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc của daotao.vtv.vn:

 qt1

                                             Tạp chí Nhà báo & Quê hương của Hội nhà báo Quảng Trị

Vào nghề

- Ai là người định hướng ông trở thành giảng viên báo chí?

Thật ra, tôi trở thành cán bộ nghiên cứu – giảng dạy báo chí là do tổ chức phân công, buộc phải làm thôi, chứ ban đầu tôi không thích. Tôi thuộc diện con em cán bộ miền Nam, học tập và hoạt động trong vùng địch tạm chiếm thuộc tỉnh Quảng Trị, từ bí mật đến công khai và được tổ chức cử ra Hà Nội dự thi và học lớp báo chí tiền phương. Tức là lớp đào tạo phóng viên báo chí để “tung “ vào các đô thị miền Nam – khi ấy miền Nam chưa được giải phóng. Nhưng khi lớp học khai giảng được chứng hơn tháng thì giải phóng miền Nam.

Tốt nghiệp đại học, tôi xin vào Nam không được. Đọc thấy trên báo Nhân Dân số Xuân 1979 có bài “Tổ Quốc giàu đẹp, đâu cũng là quê hương”, tôi làm đơn xin lên Tây Nguyên thì tổ chức bảo cứ về nghỉ hè đi, ra hẵng tính. Lúc ra, tôi nhận quyết định của ban Tuyên huấn TW ở lại làm cán bộ nghiên cứu giảng dạy tại khoa Báo chí. Hồi ấy ở trường buồn và cực khổ lắm.

Mặt khác, khi ở lại khoa, sự “cay cú” đã thôi thúc tôi học tập và phấn đấu để góp phần xây dựng khoa Báo chí như một cơ sở đào tạo duy nhất, lúc bấy giờ. Nói “cay cú” là vì tôi nghĩ và tâm sự với anh em, cả một nền báo chí của đất nước Việt Nam thống nhất mà chí có một khoa báo chí, trông lèo tèo, nghèo nàn lắm, thiếu đủ thứ.

- Bài giảng đầu tiên của ông diễn ra như thế nào?

Lúc ở lại khoa, thời gian đầu hầu hết thời gian là làm trợ giảng, đi thực tế viết bài cho các báo, đài và nghiên cứu, học ngoại ngữ. Lần đầu tiên tôi lên lớp là chữa bài tập viết tin cho lớp báo chí khóa 4. Tôi được giao chấm bài tập, chữa và hệ thống lại lý thuyết viết tin cho anh em. Từ đó về sau, hầu hết các thể loại báo chí tôi đều đã viết, nghiên cứu và giảng. Năm 1986, dù đang trình độ “phọt phẹt”, nhưng thiếu người, tôi được giao phụ trách bộ môn Lý luận và lịch sử báo chí.

Nhưng chỉ có sau khi đi nghiên cứu sinh, bảo vệ luận án tiến sĩ báo chí ở trưởng đại học tổng hợp Mátx-cơ-va Lômônôxốp (MGU) về, tôi mới thật sự tự tin và chủ động trong nghiên cứu và giảng dạy báo chí. Phải nói rằng, những tháng năm học tập, trải nghiệm ở nước ngoài đã giúp cho tôi lớn lên về mọi thứ, nhất là về chuyên môn và trải nghiệm. Tôi được lớn lên, học tập trong nhiều chế độ xã hội khác nhau: từ chính phủ Cộng hòa Miền nam Việt Nam, Việt nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa Miền nam Việt Nam, Liên Xô, Nga,…

- Giảng viên báo chí hiện đại là người như thế nào thưa ông?

          Làm cán bộ nghiên cứu – giảng dạy báo chí có thể khác với làm cán bộ nghiên cứu – giảng dạy các ngành khoa học xã hội – nhân văn khác. Bởi mấy lý do. Thứ nhất, trong nhận thức của người làm báo Việt Nam (cho đến nay vẫn tồn đọng), đào tạo báo chí là truyền nghề theo kiểu “sư phụ – đệ tử”, chứ người ta chưa hẳn coi báo chí như một bộ môn khoa học – thực tiễn. Nhưng cách làm truyền nghề như thế của báo Nhân Dân (lớp đại học báo chí gốc cây đa) là chưa thành công như mong đợi. Quan niệm này tạo áp lực không nhỏ cho anh chị em cán bộ nghiên cứu – giảng dạy trẻ.  Thứ hai, bản thân nghiên cứu – giảng dạy  nghề báo đòi hỏi không chỉ cần tích lũy tri thức khoa học, tri thức lý thuyết, mà nó còn phải có kỹ năng và kinh nghiệm hành nghề, vì nó còn mang tính chất dạy nghề; cho nên người dạy phải làm được nghề, có thể chưa làm giỏi, nhưng phải làm được và hiểu thấu đáo chuyện bếp núc nghề nghiệp và nắm được tao tác, kỹ năng hành nghề tác nghiệp. Thứ ba, người đào tạo nghề báo cũng cần là người truyền lửa nghề và chí hướng hành nghề nữa, chứ không chỉ kiến thức và kỹ năng làm nghề. Do đó, anh ta không chỉ nghiên cứu lý thuyết, tham gia tổng kết thực tiễn, mà còn cần phải là người biết “xông pha trận mạc” trong tác nghiệp, biết lăn vào cuộc sống thực tế báo chí. Có như vậy, bài giảng mới mang được hơi thở đời sống báo chí và xử lý được những tình huống thực tế do sinh viên nêu ra.

qt4

Tạp chí Nhà báo & Quê hương của Hội nhà báo Quảng Trị

Chất lượng đào tạo báo chí 

- Trong khoa báo chí mà ông quản lý có bao nhiêu giảng viên đáp ứng được yêu cầu như ông đã nói?

          Thực tế ở khoa Báo chí không phải lúc nào cũng tuyển được người giỏi và khi đã ở lại thì không phải ai cũng muốn trụ lại, bởi con người ta trước hết là có nhu cầu mưu sinh. Có thời kỳ không tuyển được sinh viên giỏi. Những sinh viên top 1, giỏi thì chỉ muốn ra ngoài làm nghề phóng khoáng và thu nhập cao hơn nhiều. Những người ở lại một thời gian và ra ngoài thường trưởng thành tốt hơn. Những cán bộ do khoa tuyển được thì thường yên tâm hơn.

Việc đáp ứng yêu cầu như đã nêu trên, tùy ở các mức độ khác nhau, nhưng có thể nói giảng viên nào cũng đáp ứng được.

          Tôi muốn nhấn mạnh chức danh là cán bộ nghiên cứu – giảng dạy chứ không phải chỉ là giảng viên. Tức là anh phải nghiên cứu, phải làm nghề, và giảng dạy. Do đó, anh vừa phải có tác phẩm báo chí, vừa phải có công trình nghiên cứu khoa học – như sách và bài nghiên cứu được công bố. Chứ không thể chỉ là thợ dạy, hoặc chỉ nghiên cứu. Và làm gì cũng thế, chất lượng thì tùy mức cố gắng và điều kiện cụ thể, nhưng quan trọng là cần có tâm.

- Đâu là những thiếu sót trong giáo trình đào tạo báo chí ở Học viện báo chí và tuyên truyền hiện nay?

Học viện báo chí và Tuyên truyền vừa là trường Đảng, vừa là trường đại học. Do đó, giáo trình cần bảo đảm những chuẩn mực của cơ sở đào tạo; trong đó chú ý đề cao chất lượng chính trị.

Có thể nói không có công trình khoa học nào hoàn thiện, tròn trịa theo ý muốn; giáo trình nào cũng có thiếu sót của nó, nhất là làm sao hệ thống hóa được hệ thống kiến thức và kỹ năng cơ bản của nhà báo, từ đó rèn tập cho sinh viên. Quan trọng hơn là quan điểm và cách thức sử dụng nguồn lực.

Điều đáng mừng là hệ thống giáo trình, sách tham khảo của khoa Báo chí ngày càng nhiều, càng phong phú, đa dạng. Hồi chúng tôi học, chỉ có chép tay bài giảng mà không hề có một cuốn giáo trình này, dù là sách dịch. Mãi cuối khóa khoa mới xuất bản được 2 tập sách.

- Tại sao tỉ lệ giảng viên mời tại khoa báo chí là các nhà báo có uy tín lại giảm đi so với những năm 90 của thế kỷ trước?

Thực ra nếu tính tỷ lệ mời các nhà báo thì không giảm. Nhưng số cán bộ trong khoa đã có thể đứng lớp ở hầu hết các bài giảng, cho nên chủ yếu mời ở một số học phần và nhất là trình bày kinh nghiệm thực tiễn và hướng dẫn thực hành cho sinh viên. Mặt khác, bây giờ nhà trường đi vào khoán quản định mức giờ giảng nữa, lịch bố trí cũng cứng chứ không như trước di chuyển lịch thoải mái, cho nên không phải nhà báo nào cũng đáp ứng được. Mà nhỡ lịch là bị nhắc nhở. Nhà trường có đội ngũ kiểm tra hùng hậu lắm. Nhưng, có thể nói khoa Báo chí là một khoa mời nhiều các nhà báo, nhất là trình bày kinh nghiệm và hướng dẫn thực hành. Bởi chúng tôi luôn xác định, nguồn lực đào tạo của khoa thì 50 % là nhờ vào các nhà báo đang hành nghề và các cơ quan báo chí – truyền thông.

PGS TS Nguyễn Văn Dững

PGS TS Nguyễn Văn Dững

- Việc đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ cho giảng viên cơ hữu ở khoa báo chí được thực hiện như thế nào trong những năm gần đây?

Khoa có kế hoạch và chiến lược đào tạo nhân lực tại chỗ rất cụ thể. Cán bộ trẻ mới về khoa được giao mấy nhiệm vụ chính: (1) là học tập, nghiên cứu, nhất là học ngoại ngữ; (2) là đi thực tế 1 năm và sau đó cộng tác với các cơ quan báo chí để làm nghề; (3) trợ giảng và tham gia các hoạt động của nhà trường để nắm hiểu môi trường sư phạm – nghề nghiệp. Sau 2-3 năm, học xong thạc sĩ mới giao chuẩn bị chuyên đề giảng dạy, tùy theo từng người. Cán bộ nghiên cứu – giảng dạy luôn được động viên, khuyến khích học tập nâng cao trình độ, cả về lý thuyết và thực hành nghề. Khoa Báo chí có Quỹ nghiên cứu phát triển để hỗ trợ các thầy cô trong nghiên cứu và xuất bản công trình khoa học.

- Ông đánh giá thế nào về việc thi tuyển năng khiếu lại trở lại sau khoảng hơn 10 năm của học viện?

Từ năm 2004 Học viện bỏ thi năng khiếu báo chí, cho đến năm 2015 mới khôi phục lại. Khôi phục thi năng khiếu báo chí là chỉ báo tốt. Tuy nhiên thi như thế nào để phát hiện được năng khiếu ở thi sinh lại là câu chuyện không đơn giản.

- Điều mà ông chưa thực hiện được với tư cách trưởng khoa báo chí?

Với tư cách trưởng khoa Báo chí, cùng với ban chủ nhiệm khoa và anh chị em,  chúng tôi đã làm được một số việc; nhất là việc đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu – giảng dạy và thường xuyên đổi mới chương trình, xây dựng được thương hiệu cũng như bản lĩnh một khoa đào tạo, đào tạo đủ các bậc học từ cử nhân, thạc sĩ đến tiến sĩ và đào tạo cập nhật kiến thức, kỹ năng làm nghề, góp phần nâng cao trình độ cho đội ngũ. Chúng tôi cũng thích ứng, bắt mạch được nhịp bước của nghề báo chí – truyền thông đương đại trong môi trường truyền thông số để mở rộng hướng nghề đào tạo, đáp ứng nhu cầu xã hội.

Nói chung, tâm huyết, đam mê và ấp ủ thì nhiều, nhưng làm chưa được bao nhiêu. Chưa có thời gian và nhất là điều kiện để hoàn thiện và xuất bản các công trình đang thai nghén,…Tuy nhiên, trong điều kiện khó khăn mà làm được như vậy cũng là tốt rồi.

- Ông nghĩ sao về một nhận định của GS. Tạ Ngọc Tấn : ” Trong 100 cử nhân báo chí ra trường nếu có khoảng 20 người làm nghề tốt thì đấy là thành công của đào tạo báo chí”?

Thực ra đó là nhận định của nhiều nhà báo chuyên nghiệp. Nếu tỷ lệ 20% được đào tạo ra làm tốt thì đấy là tỷ lệ cao. Vì đạo tạo báo chí ở ta, vào bao nhiêu, ra tốt nghiệp bấy nhiêu, không có thải loại trong đào tạo. Tuy nhiên, nó còn phụ thuộc vào tính chuyên nghiệp của nền báo chí nữa; và thế nào là làm tốt cũng chưa dễ thống nhất.

Ở nước Bỉ, đầu vào hàng năm có thể đến 700 sinh viên từ các nước trong EU, cứ ai có nhu cầu thì đăng ký vào học. Nhưng cuối năm ra chỉ còn chưa đến 300. Và phần đông trong số gần 300 này lại học tiếp cao học để được trang bị và rè luyện các kỹ năng làm nghề phức tạp hơn. Họ dạy và học đam mê, từ sáng đến tối mịt. Họ có được không khí như vậy.

Chia sẻ với Quảng Trị

 - Là người đã nhiều lần giảng dạy tại đài PTTH Quảng trị quê hương, theo ông đài pt- th địa phương nói chung và đài quảng trị cần thay đổi như thế nào để hòa nhập với báo chí trung ương trong giai đoạn mới?

Thật ra, câu chuyện báo chí địa phương nói chung, đài PTTH Quảng trị nói riêng là câu chuyện khá dài dong. Ở đây, tôi chỉ có thể chia sẻ mấy ý thôi.

Thứ nhất, các Đài PTTH địa phương có nhiều thế manh chưa phát huy được và cũng có nhiều khó khăn “khó nói’. Thuận lợi nhất là văn hóa bản địa, tâm lý, nhu cầu,… công chúng bản địa chưa được khai thác triệt để để có thể tạo nên bản sắc thông điệp, để tạo nên sự khác biệt. Bởi xét cho cùng, thông điệp hay sản phẩm truyền thông phải tạo sự khác biệt mới hấp dẫn, thuyết phục được công chúng. Nhưng làm báo, đài địa phương “vướng” nhiều “điều’ khó nói. Các đồng nghiệp hình như đang lo nhiều đến câu chuyện “cơm áo gạo tiền”, hay câu chuyện mưu sinh, cho nên không phải ai và lúc nào cũng toàn tâm toàn ý cho sự nghiệp sáng tạo nghề nghiệp, do đó không phải lúc nào họ cũng thăng hoa được. Mặt khác, trong môi trường văn hóa chính trị hiện nay, làm báo hay đài địa phương càng khó khăn hơn, không ít người “chân dài vai rộng” càng khó bơi lội, khó làm được các chương trình chuyên về giám sát và phản biện xã hội hay điều tra – các chương trình vốn luôn thu hút công chúng và tỏ rõ sức mạnh, vai trò của báo chí được đại. Có ý kiến cho rằng, báo chí, nhất là đài PTTH địa phương, cứ mở sóng ra là thấy toàn hình ảnh lãnh đạo địa phương – những gương mặt mà công chúng quá quen, quen đến mức…..ngấy hơn thịt mỡ.

Thứ hai. làm báo PTTH địa phương có lẽ càng vất vả hơn, vì khó ẩn danh hơn nếu muốn chia sẻ thông điệp sang các chương trình khác. Đấy là chưa kể đến điều kiện kỹ thuật và công nghệ thường đi sau, các kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp ít có điều kiện chia sẻ, cập nhật. Các đồng nghiệp thiệt thòi trăm thứ.

Thứ ba, trong những khó khăn chung của các đài PTTH địa phương, Đài PTTH Quảng Trị có những khó khăn riêng nữa.

Quảng Trị là “khúc giữa” Miên Trung nên xa cả hai đầu, khó có điều kiện kết nối, trong khi đó, các điều kiện cho phát triển trong kinh tế thị trường lại quá nghèo, nghèo hơn cả điều kiện tự nhiên. Người Quảng Trị lại thẳng tính đến đôi khi thành ngang tính, rồi thành ngáng lẫn nhau. Vậy nên, về khía cạnh này thì Quảng Trị có thể tiêu biểu cho tính cách người Việt là nếu xét từng cá nhân thì chẳng thua kém ai, nhưng cụm lại thì khó thắng ai được. Đó là một khía cạnh trong tính cách văn hóa con người.

Còn đi vào cuộc sống của anh em làm nghề thì có lẽ không kể hết khó khăn. Đi làm một cái tin TH với nhuận bút phóng viên chỉ vài chục ngàn, nhuận bút một phóng sự cũng không tới trăm ngàn, trong khi lương anh chị em quá thấp, khó trang trải, trong khi điều kiện thời tiết thì khắc nghiệt,….thi thoảng về quê, gặp anh chị em trông có vẻ hom hem, gầy ốm (do suốt ngày long đong vất vả) mà thấy…..Nhưng được cái, anh chị em vẫn rất yêu nghề và trách nhiệm lắm, khó khăn nhiều nhưng vẫn tươi lắm.

Còn hòa nhập ư? Tôi không nghĩ phải đổi mới để hòa nhập với báo chí trung ương; mà bất kể báo chí TW hay địa phương đều cần đổi mới toàn diện để đáp ứng nhu cầu công chúng và yêu cầu phát triển trong kinh tế thị trường và môi trường truyền thông số; trong đó, báo chí địa pương cần gia tăng làm đậm bản sắc địa phương. Đó là thế mạnh, và hòa nhập bằng thế mạnh của mình.

qt2

qt3

Còn về tích hợp đa kỹ năng trong môi trường truyên  thông số của nhà báo (cả PV và BTV), rồi tích hợp kỹ thuật-công nghệ trong quy trình tổ chức sản xuất chương trình, rồi mô hình tòa soạn hội tụ thì không phải cứ địa phương yếu hơn TW. Ví như, ai bảo báo Tuổi trẻ TP HCM yếu hơn đài, báo TW? Hay phát triển kinh tế báo chí – truyền thông, ai bảo đài Vĩnh Long kém hơn đài TW? Vấn đề là ở chỗ, biết phát hiện và tìm ra lối đi riêng cho mỗi cơ quan mình. Còn kỹ thuật – công nghệ thì có điều kiện và “chịu đầu tư” sẽ có bước đi đột phá. ….

Ở đây, tôi muốn nói đến tư duy và văn hóa chính trị của người đứng đầu – đứng đầu địa phương và đứng đầu cơ quan báo chí. Nếu còn dùng báo chí chủ yếu để đánh bóng tên tuổi quan chức như thứ trang sức riêng và không mấy để ý đến tâm tư nguyện vọng của công chúng, đến vấn đề phát triển của địa phương, thì báo chí nào rồi cũng đến lúc như…..cánh đồng hoang.

Mà đổi mới thì đòi hỏi hy sinh, trước hết là hy sinh thói quen bảo thủ, hy sinh lợi ích cá nhân để tạo bước nhảy cho cơ quan. Ví dụ như làm tòa soạn hội tụ thì không phải ai trong cơ quan cũng đồng lòng; vì ngại thay đổi, vì sợ ‘đụng” đến thu nhập,…cho nên cứ thích bọc trong vỏ kén, mà không muốn chui ra thành con bướm bay tung tăng trong mùa xuân để hít thớ khí trời thì…

Quảng Trị nói riêng, miền Trung nói chung là đất vượng cho báo chí, nhất là cho những cây bút phóng sự, và chính luận. Tôi hy vọng và chờ đợi sự bứt phá của các đồng nghiệp.

Kỷ niệm về nước Nga

- Kỷ niệm mà ông luôn không thể quên đối với những người thầy Nga?

Phải nói ngay là những người thầy Nga hết sức đôn hậu và những người thầy mà tôi tôn kính nhất, không bao giờ quên thì thường là những người nghiêm khắc trong chuyên môn.

Hồi mới sang Liên Xô, tôi muốn tìm hiểu các thầy ở khoa Báo chí MGU để xem cụ thể nhờ ai hướng dẫn khoa học. Tôi hỏi anh Đinh Thế Huynh (khi ấy đang chuẩn bị bảo vệ luận án). Anh ấy nói:

“Mày thích thì làm với ông Prô-khô-rốp !

Tôi đang ngỡ ngàng không biết ông này là ai, thì anh nói luôn:

- Ông ấy đã đuổi 2 nghiên cứu sinh nước ngoài về nước rồi đấy !

Nghe mà hoảng quá. Tôi lên khoa Báo chí tìm hiểu thì biết Giáo sư – tiến sĩ khoa học Prô-khô-rốp là giáo sư đầu ngành của báo chí Xô viết. Giáo trình Cơ sở lý luận báo chí của giáo sư này là giáo trình bắt buộc của 24 khoa báo chí của 24 trường đại học tổng hợp có khoa Báo chí trên toàn Liên Xô. Ông ấy gốc người Do Thái, rất thông minh, uyên bác và bố hy sinh trong thế chiến thứ 2. Nhưng ông là người làm việc rất nghiêm, các sinh viên và nghiên cứu sinh, thậm chí cả các cán bộ nghiên cứu giảng dạy trong khoa đều “ngại” nhưng rất thích và ngưỡng mộ ông.

Khi tôi lên xin lịch gặp giáo sư vào đầu tháng 1 năm 1990, đăng ký qua Bộ môn, trợ lý của ông. Buổi đầu tiên, sau khi tự giới thiệu bản thân và hướng nghiên cứu, tôi nêu tên đề tài luận án (đã tham khảo mấy chuyên gia, bạn bè ở nhà): “Vai trò của báo chí trong quá trình mở rộng tính công khai, dân chủ hóa đời sống xã hội”. Ông cười nhẹ và nói:

-         Anh có biết, công cuộc cải tổ của Liên Xô hiện này như chuyến bay không có sân đỗ. Liên Xô nó sắp sụp đổ, sắp tan rã rồi, anh làm cái này làm gì!

Tôi chưa kịp định thần vì câu nói ấy, thì ông gợi ý:

- Anh là cán bộ nghiên cứu – giảng dạy, có thể và nên làm về mối quan hệ tác động của báo chí và dư luận xã hội. Đó là viên đá tảng trong lý luận báo chí; đồng thời nêu ra 2 điều kiện: (1) là anh cần phải làm việc nghiêm túc như một nhà khoa học và bám sát đời sống xã hội như một nhà báo; (2) là tôi không sửa lỗi chính tả và ngữ pháp cho anh đâu đấy. Anh cứ về suy nghĩ đi, sau 2 tuần thì chúng ta gặp nhau, xem liệu có làm việc được với nhau không nhé.

Buổi gặp chỉ trong chừng 30 phút, nhưng chỉ sau 1 tuần, tôi đã lon ton lên khoa xin gặp để được làm việc với GS và về đề tài luận án do ông gợi ý. Bởi tôi nghĩ, đã cất công đi học thì cần tìm thầy giỏi và nghiêm mà học cho đàng hoàng.

với giáo sư pro

PGS TS Nguyễn Văn Dững với giáo sư prô khô rốp

- Người thầy mà ông ngưỡng mộ nhất là ai?

 Nói chung, tôi kính trọng và ngưỡng mộ nhiều thầy, cô giáo người Nga, ở trưởng MGU, ở khoa Báo chí mà tôi được tiếp xúc. Họ tâm huyết, nhân hậu và lành. Trong đó giáo sư Prô-khô-rốp là người thầy tôi ngưỡng mộ nhất. Biết giáo sư hướng dẫn tôi cẩn thận, ban nghiên cứu sinh Việt Nam cùng khoa (nay là Tổng biên tập một tờ báo mạng điện tử nổi tiếng) đi theo để nắm thêm phương pháp nghiên cứu. Bạn này hỏi ông:

- Tại sao giáo sư hướng dẫn tôi không kỹ về phương pháp nghiên cứu như thế này? (thực ra anh bạn này nắm thêm phương pháp để giúp cho một luận án của nghiên cứu sinh ngành khác)

- Anh là nhà báo, làm xong luận án là được rồi; còn anh bạn này là giảng viên đại học, nó sẽ là máy cái để đào tạo các thế hệ sau, cho nên cần hướng dẫn kỹ phương pháp nghiên cứu khoa học.

- Luận án phó tiến sĩ của ông được thực hiện như thế nào?

Tôi nhớ mãi và không bao giờ quên, phải đọc cuốn Sách cho nhà xã hội học (sách bìa cứng màu đen, khổ to), do giáo sư hướng dẫn khoa học bảo phải đọc để trao đổi. Sách hơn 400 trang, tôi đọc vất vả lắm, mất 6 tháng hơn mới dám lên gặp ông để báo cáo. Bởi đó là sách cẩm nang hướng dẫn triển khai lý thuyết và phương pháp nghiên cứu xã hội học; và bởi ở nhà tôi có được trang bị gì về xã hội học hay phương pháp nghiên cứu đâu. Đọc rất khó hiểu, nhưng rất bổ ích.

Sau 2 năm đọc sách (mất 9 tháng học nâng cao tiếng Nga), làm đề cương, viết phần mở đầu và chương khung lý thuyết cho vấn đề nghien cứu, tôi đem trình ông và xin phép khoanh vùng khảo sát tư liệu báo chí Việt nam. Ông bảo:

- Nếu anh thích khảo sát trên tư liệu báo chí Việt Nam, thì tốt nhất về nước mà bảo vệ. Tôi rất không thích kiểu “múa rìu qua mắt thợ”, là NCS nước ngoài toàn làm tư liệu ở nước mình và chủ yếu là phịa ra. Theo anh như vậy có nghiêm túc không? Có đạo đức khoa học không?

Đến lúc này, tôi mới thấm câu nói như tưởng đùa của anh Đinh Thế Huynh lúc ban đầu. Và luận án của tôi buộc phải khảo sát, so sánh dựa trên tư liệu báo chí Nga và Việt Nam đầu những năm 90. Đó là nỗi sợ hãi của những nghiên cứu sinh, ngay cả các nghiên cứu sinh  “Nga quay” với tiếng Nga như gió. Thế là tôi vật vã với việc khảo sát, nào anket, nào phỏng vấn sâu và nghiên cứu trường hợp về báo chí và dư luận xã hội, nào phân tích nội dung,… đúng lúc cuộc bầu cử Tổng thống Nga lần thứ nhất diễn ra…. Khi khảo sát dư luận xã hội để đưa ra dự báo “Ai sẽ trúng cử Tổng thống Nga thứ nhất” này, trung tâm nghiên cứu dư luận xã hội và báo chí của khoa Báo chí MGU, do GS Prô-khô-rốp phụ trách chia thánh 12 nhóm đến 12 điểm bầu cử. Tôi được ưu tiên giao 3 nhóm. Trong 3 nhóm này, tôi trực tiếp phụ trách một nhóm 3 sinh viên năm 3, còn 2 nhóm kia, tôi phải nhờ và hướng dẫn các sinh viên năm tư. Đến 11giờ trưa hôm bầu cử, 3 nhóm của tôi phụ trách đã có kết quả. Tôi tập hợp và báo cáo: ứng viên Boris Yelsin sẽ trúng cử nhưng số phiếu dưới 55%. Kết quả là ông ta trúng cử với số phiếu 53,6%. Xong cuộc này, giáo sư bảo tôi: tổ chức nghiên cứu dịp này là để giúp anh thực hành phương pháp nghiên cứu dư luận xã hội và có tư liệu làm luận án.

Một kỷ niệm khác, khi GS giao cho tôi phải dọc 4 cuốn sách trong 2 tuần, cuốn ít nhất là 1 chương, nhiều nhất là 3 chương. Nhưng sau hơn 4 tuần tôi mới đọc xong và lên gặp ông. Ông có vẻ không hài lòng. Tôi giải thích rằng, số lượng sách phải đọc trong 2 tuần như vậy với tôi là quá nhiều, rằng tôi không phải là người Nga, tiếng Nga còn yếu,…và nhất là tôi còn phải lo nuôi con trai,…Lúc này, ông dịu dàng và nhìn thẳng vào mắt tôi nói:

- Uh thì thông cảm. Nhưng công việc là công việc. Anh có con trai đang bé, làm sao có nỗi lo như tôi – con gái tôi lớn (hơn 30 tuổi) chưa chồng. mà anh biết đấy, nó như quả bom nổ chậm ấy, con gái càng lớn nỗi lo càng phình ra, tôi lo nhiều hơn anh chứ. Anh có nhớ câu ngạn ngữ của người Đức “Rượu để càng lâu càng ngon, còn con gái, phụ nữ để cảng lâu càng dở”?. Ông cười rất đôn hậu.

Trong một cuộc sinh hoạt khoa học khoa Báo chí MGU, có đông đủ giảng viên và các NCS, GS,TSKH. Za-xu-rơ-xki, Trưởng khoa báo chí MGU, đang trình bày, tôi lấy máy ghi âm sony ra ghi âm. Nói xong, ông biểu dương tôi về phong cách làm việc khoa học và nghiêm túc khi ghi âm làm tư liệu để “nói có sách, mách có chứng”, trong khi các nghiên cứu sinh khác chỉ ngồi nghe mà không ghi chép gì. Nhưng thực ra, cái chính là do tiếng Nga của tôi nghe còn chưa kịp hết nên phải ghi âm thôi. Nhưng ở khoa báo chí MGU, các thầy luôn chú ý rèn thái độ, phong cách làm việc khoa học, nghiêm túc và cẩn trọng.

Khi bảo vệ luận án cấp cơ sở, tôi nhận được 17 câu hỏi. Choáng quá. Thấy tôi mệt mỏi, giáo sư đến cạnh tôi, vỗ vai, cười rất tươi và động viên:

- Anh bình tĩnh mà nghe. Người ta hỏi nhiều là tốt, chỉ sợ không ai quan tâm thôi. Mà ở đây, anh thấy đấy, nhiều phụ nữ lắm, hỏi nhiều là phải. Thường thì phụ nữ nói và làm xong mới nghĩ; còn đàn ông, nghĩ xong mới nói và làm.

nvd3

Trong cuộc bảo vệ cấp nhà nước, một GS phản biện khoa học bất ngờ hỏi tôi:

- Anh nghiên cứu về mối quan hệ tác động giữa báo chí và dư luận xã hội, nhưng báo chí Việt Nam cũng như báo chí Liên Xô trước đây, trên bảo gì thì báo chí nói nấy, làm sao hình thành được dư luận xã hội đích thực mà nghiên cứu? Anh có thấy đó là trở ngại lớn nhất không? (ở đây không có câu hỏi cho trước)

Tôi liếc nhìn thấy bao ánh mắt lo ngại đổ dồn về tôi, nhất là từ Hội đồng D gồm 16 giáo sư và 1 phó giáo sư. Nghĩ một lúc, hơi bực mình, tôi đáp:

- Thưa giáo sư kính mến. Câu hỏi của ông rất thú vị. Nhưng rất tiếc là khó khăn của tôi khi nghiên cứu vấn đề này lại không phải ở Việt Nam, không phải ở Mỹ, Pháp hay Anh quốc. mà lại là ở nước Nga của chúng ta hôm nay. Bởi vì, Việt Nam hay các nước khác đang được xem xét như một hệ thống; còn nước Nga bây giờ không được xem xét theo hệ thống nào cả, nó như một mớ hỗn mang, quanh năm tội phạm.

Cả hội trường vỗ tay hồi lâu. Tôi liếc nhìn giáo sư của mình, thấy ông có vẻ rung đùi, tâm đắc. Ngay sau cuộc bảo vệ, GS kéo tôi và 4 GS khác vào phòng làm việc của ông, mở chai rượu cô-nhắc ra uống. Ông nói:

- Tôi cũng bất ngờ vì câu trả lời của anh. Thật tuyệt với. (lại nâng ly tiếp) Chúng ta thấy, giáo sư quay sang nhìn các đồng nghiệp, bao nhiêu GS,TS mới hôm qua họ bảo vệ lấy học vị, học hàm bằng các công trình của C. Mác, Lê-nin, nhưng hôm nay họ quay mặt phỉ báng các vị lãnh tụ kính yêu. Các nhà khoa học thật hay dởm, nhưng thật đáng ghê tởm! Hãy bảo vệ quan điểm của mình!

Nói xong, mấy GS nhìn nhau với ánh mắt buồn.

- Những cuốn sách của ông đã xuất bản ở Việt Nam?

Tôi chưa có nhiều sách xuất bản; phần vì lo các việc hàng ngày như giảng dạy, họp hành và lo toan cuộc sống,…và với cán bộ khoa học cấp cơ sở như chúng tôi thì trong điều kiện hiện nay, ra sách cũng không đơn giản, không dễ có được những đề tài khoa học. Có thể nêu ra một số cuốn như:

1. Chủ biên, đồng tác giả: Báo phát thanh; Nxb VH-TT; H. 2002

2. Chủ biên, (đồng tác giả với PGS,TS. Đỗ Thị Thu Hằng): Truyền thông – Lý thuyết và kỹ năng cơ bản; Nxb LLCT; h. 2006

3. Chủ biên, đồng tác giả: Tác phẩm báo chí (tập 2); Nxb LLCT; H. 2007

4. Chủ biên, đồng tác giả: Báo chí với trẻ em; Nxb Lao Động; H. 2004

5. Chủ biên, đồng tác giả: Sổ tay phóng viên báo chí với trẻ em; Nxb lao Động 2002

6. Đồng tác giả (Lương Khắc Hiếu chủ biên): Dư luận xã hội trong sự nghiệp đổi mới; Nxb CTQG; H. 1999

7. Tác giả: Báo chí truyền thông hiện đại; nxb ĐHQGHN; H. 2011

8. Tác giả: Cơ sở lý luận báo chí; Nxb Lao Động; h. 2012

9. Chủ biên, đồng tác giả: Báo chí giám sát, phản biện xã hội ở Việt Nam; Nxb ĐHQGHN; H. 2017. (sách chuyên khảo)

10. Tác giả: Báo chí và dư luận xã hội (sách chuyên khảo); Nxb Lao Động; H. 2012

11. Nhà báo – Những bí quyết kỹ năng nghề nghiệp (sách dịch với Hoàng Anh); Nxb Lao Động; H. 1998

Vũ Quang

Thư viện